Luật sư tư vấn thành lập Công ty Cổ phần – đăng ký kinh doanh, thuế, lao động, bảo hiểm, tài sản góp vốn, cơ cấu tổ chức

I. Lời mở đầu

Hướng dẫn Thành lập Công ty Cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp mới nhất. 

Những nội dung Quý khách cần quan tâm khi thực hiện thành lập Công ty Cổ phần: Cơ cấu tổ chức, Lao động, Bảo hiểm, Thuế, Tài sản góp vốn, Thủ tục đăng ký kinh doanh, …

Luật sư Phòng DVPL Kinh doanh – Thương mại, Công ty luật ThinkSmart tư vấn thành lập Công ty cổ phần qua bài viết sau đây.

II. Giải thích thuật ngữ

Luật sư chia sẻ và giải thích những thuật ngữ Quý khách thường gặp liên quan đến Công ty Cổ phần:

1. Công ty cổ phần là gì?

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;

+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020.

2. Cổ đông là gì?

Cổ đông trong công ty cổ phần là thành viên của công ty, là những người sở hữu ít nhất 01 cổ phần của công ty. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, công ty cổ phần có ít nhất 03 cổ đông và không giới hạn về số lượng cổ đông tối đa. 

3. Cổ phần là gì?

Cổ phần được hiểu là phần vốn được lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau. Có 02 (hai) loại cổ phần đó là:

– Cổ phần phổ thông;

– Cổ phần ưu đãi. Gồm các loại sau: 

+ Cổ phần ưu đãi biểu quyết;

+ Cổ phần ưu đãi cổ tức;

+ Cổ phần ưu đãi hoàn lại;

+ Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.

4. Chế độ chịu trách nhiệm của Công ty Cổ phần

Chế độ chịu trách nhiệm của công ty cổ phần là chế độ trách nhiệm hữu hạn, cụ thể:

+ Công ty sẽ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản công ty;

+ Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng số vốn góp vào công ty.

5. Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.

6. Hội đồng quản trị công ty cổ phần

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định. Mỗi thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết.

Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị. Thành viên hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông công ty bầu. 

Hội đồng quản trị bầu một thành viên của hội đồng quản trị làm chủ tịch hội đồng quản trị.

III. Những công việc doanh nghiệp cần thực hiện khi thành lập công ty cổ phần

Khi thành lập Công ty Cổ phần, Quý khách cần thực hiện những nội dung công việc sau đây:

1. Đăng ký kinh doanh

– Đặt tên cho Công ty Cổ phần

– Đặt trụ sở chính của Công ty Cổ Phần

– Xác định mã ngành, nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần

– Xác định giá trị Vốn điều lệ của Công ty Cổ phần

– Người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp – Công ty Cổ phần

– Thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp – Công ty Cổ phần (hồ sơ, thời gian, cơ quan)

– Công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp – Công ty Cổ phần (hồ sơ, thời gian, cơ quan)

– Treo biển hiệu của Công ty Cổ Phần

– Hiệu đính thông tin đăng ký doanh nghiệp – Công ty Cổ phần

2. Hồ sơ thuế ban đầu

– Thực hiện thủ tục khai thuế ban đầu của Công ty Cổ phần (hồ sơ, thời gian, cơ quan)

– Bổ nhiệm kế toán trưởng, người phụ trách kế toán của Công ty Cổ phần

– Mở tài khoản ngân hàng của Công ty Cổ phần

– In – đặt in, thông báo – đăng ký sử dụng Hóa đơn điện tử, Hóa đơn giấy của Công ty Cổ phần

3. Hồ sơ lao động ban đầu

– Lập sổ quản lý lao động

– Khai trình sử dụng lao động lần đầu

– Thông báo ban đầu về số lao động làm việc tại doanh nghiệp mới thành lập

– Thành lập công đoàn

– Xây dựng và thông báo thang lương, bảng lương

– Xây dựng bảng phụ cấp lương

– Xây dựng và đăng ký nội quy lao động

– Xây dựng và thông báo định mức lao động

4. Hồ sơ bảo hiểm lần đầu

– Đăng ký tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp lần đầu

5. Tài sản của Công ty Cổ phần mới thành lập

– Xác định tài sản có thể là tài sản góp vốn

– Định giá tài sản góp vốn

– Lập chứng từ đối với tài sản góp vốn (Chứng từ góp vốn)

– Tài sản góp vốn là bất động sản (nhà, đất, tài sản gắn liền với đất)

– Tài sản góp vốn là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (ô tô, xe máy,…)

– Tài sản góp vốn là phương tiện thủy nội địa

– Tài sản góp vốn là tàu biển

– Thuế, phí, lệ phí chuyển quyền sử dụng, sở hữu tài sản góp vốn

6. Cơ cấu tổ chức, quản lý Công ty Cổ phần mới thành lập

– Xây dựng Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần

– Xây dựng, lập sổ đăng ký Cổ đông

– Xây dựng Nội quy

– Xây dựng Quy chế

– Xây dựng Quy trình

IV. Dịch vụ Luật sư tư vấn thành lập Công ty Cổ phần

1. Nội dung công việc

Trong quá trình thực hiện thành lập Công ty Cổ phần, nếu có khó khăn, vướng mắc, đội ngũ Luật sư ThinkSmart luôn sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ Quý khách. Khi kết nối với ThinkSmart, Quý khách sẽ được cung cấp dịch vụ Luật sư tư vấn tư vấn trình tự thủ tục thành lập Công ty Cổ phần, với các nội dung cụ thể sau đây:

  • Luật sư ThinkSmart phân tích pháp lý, đưa ra các phương án giải quyết vấn đề, đồng thời phân tích chặt chẽ ưu điểm – nhược điểm của từng phương án đó. Điều này giúp Quý khách có cái nhìn tổng thể và khách quan nhất về kết quả dự kiến đạt được.Quý khách chủ động quyết định phương án thành lập Công ty Cổ phần.
  • Luật sư ThinkSmart xây dựng, soạn thảo đầy đủ hồ sơ, văn bản theo thủ tục thành lập Công ty Cổ phần theo quy định pháp luật.
  • Luật sư ThinkSmart đại diện Qúy khách đi nộp hồ sơ, làm việc với các bên thứ ba như: Phòng đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và đầu tư, ….
  • Nhận kết quả (hoàn thành mục tiêu của Quý khách).

2. Các gói dịch vụ

Dựa trên nhu cầu của bản thân, Quý khách có thể lựa chọn 1 trong 3 gói dịch vụ như sau:

Gói 1: Luật sư tư vấn thành lập Công ty Cổ phần 

Gói 2: Luật sư tư vấn và xây dựng, soạn thảo hồ sơ thành lập Công ty Cổ phần

Gói 3: Luật sư tư vấn và đại diện Quý khách thực hiện toàn bộ công việc. Ghi chú: Với những công việc bắt buộc phải có sự hiện diện của Quý khách theo quy định pháp luật, ThinkSmart sẽ cử nhân sự đồng hành cùng Quý khách.

3. Cách thức kết nối

Để nhận tư vấn về thành lập Công ty Cổ phần – Luật sư tư vấn đăng ký kinh doanh, thuế, lao động, bảo hiểm, tài sản góp vốn, cơ cấu tổ chức, Quý khách có thể dễ dàng kết nối với ThinkSmart thông qua 1 trong 3 cách thức sau đây:

4. Nguyên tắc hoạt động, cam kết

Trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý cho Quý khách nói riêng và quá trình hoạt động nghề nghiệp nói chung, ThinkSmart cam kết tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc sau đây:

i. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

ii. Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

iii. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.

iv. Bảo mật thông tin Khách hàng.

v. Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

vi. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư.

V. Lời kết

Trên đây là nội dung tư vấn của Công ty luật ThinkSmart về thành lập Công ty Cổ phần – Luật sư tư vấn đăng ký kinh doanh, thuế, lao động, bảo hiểm, tài sản góp vốn, cơ cấu tổ chức. Trân trọng cảm ơn Quý khách đã quan tâm và tin dùng dịch vụ pháp lý của ThinkSmart./.

Hướng dẫn sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật từ Luật sư Công ty luật ThinkSmart

Tại bài viết này, Công ty luật ThinkSmart sẽ hướng dẫn Quý khách cách thức sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật từ Luật sư, Chuyên viên pháp lý của chúng tôi.

I. Đặt lịch văn phòng

1. Mô tả hình thức Đặt lịch tư vấn tại văn phòng

Khi Quý khách mong muốn Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp cho Quý khách tại văn phòng công ty luật, hãy đặt lịch tư vấn cho ThinkSmart tại đây.

Địa chỉ văn phòng Công ty luật ThinkSmart
Hà Nội: Phòng 1001 tầng 10 tòa CT3-3, Khu đô thị Mễ Trì Hạ, Nam Từ Liêm, Hà Nội
Nam Định: Phòng TM2 tầng 3 tòa TNL Plaza số 272 Trần Hưng Đạo, phường Bà Triệu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
Hotline: 1900 636391

2. Trường hợp, đối tượng, sự việc, vấn đề pháp lý nào nên tư vấn tại văn phòng?

  • Đối với những khách hàng sinh sống và làm việc khu vực phía bắc, các tỉnh (thành phố) Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh.
  • Đối với khách hàng muốn kiểm tra văn phòng, trụ sở Công ty luật ThinkSmart, đánh giá năng lực – trách nhiệm của đội ngũ Luật sư, chuyên viên pháp lý.
  • Đối với vụ việc, vấn đề pháp lý phức tạp, cần trao đổi trực tiếp và chi tiết với Luật sư, Chuyên viên pháp lý.
  • Những trường hợp khác theo yêu cầu, mong muốn của Quý khách.

3. Hướng dẫn đặt lịch tư vấn tại văn phòng

Quý khách bấm vào mục “Đặt lịch văn phòng” nêu trên, điền các thông tin có trong biểu mẫu và bấm nút “Gửi” ở cuối biểu mẫu. Dựa theo thông tin Quý khách cung cấp, nhân sự của Công ty luật ThinkSmart sẽ chủ động liên hệ với Quý khách để xác nhận các nội dung của buổi tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng.

Ngoài cách thức trên, Quý khách còn có thể đặt lịch tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng qua số điện thoại 1900 636391:

  • Nhánh số 1 – đặt lịch tư vấn về Dân sự gồm Đất đai, Thừa kế, Hôn nhân, Lao động, Hợp đồng, Nhà ở.
  • Nhánh số 2 – đặt lịch tư vấn về Kinh doanh – thương mại gồm: Tư vấn đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Thành lập – Hoạt động, Mua bán – Sáp nhập Doanh nghiệp, Tài chính – Ngân hàng.
  • Nhánh số 3 – đặt lịch tư vấn về Hình sự, Tố tụng Hình sự, Thi hành án Hình sự.
  • Nhánh số 4 – đặt lịch tư vấn về khiếu nại, khởi kiện Hành chính.
  • Nhánh số 5 – đặt lịch tư vấn các vấn đề khác.

4. Phí dịch vụ tư vấn pháp luật tại văn phòng?

Phí dịch vụ tư vấn tại văn phòng được tính theo giờ, trong khoảng 500.000 VND đến 1.500.000 VND trên một giờ tùy theo tính chất, mức độ phức tạp của vấn đề pháp lý.

Khi trao đổi các nội dung tư vấn qua điện thoại (trước khi tư vấn trực tiếp), Công ty luật ThinkSmart sẽ báo phí dịch vụ tư vấn chính xác cho Quý khách. Phí dịch vụ này được ThinkSmart cân đối phù hợp với nội dung vụ việc và mong muốn, yêu cầu giải quyết vấn đề của Quý khách. Luật sư, Chuyên viên pháp lý của ThinkSmart sẽ thực hiện việc tư vấn pháp luật tại văn phòng sau khi Quý khách hoàn toàn yên tâm và hiểu rõ về phí dịch vụ.

II. Tư vấn qua thư

1. Mô tả hình thức tư vấn pháp luật qua thư tư vấn

Khi Quý khách mong muốn nhận được một (hoặc những) văn bản tư vấn pháp luật cho một sự việc, vấn đề pháp lý cụ thể. Văn bản này có ý kiến tư vấn của Luật sư, Chuyên gia pháp lý ThinkSmart, có chữ ký xác nhận, đóng dấu của Giám đốc Công ty luật TNHH ThinkSmart. Hãy đăng ký và sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật qua thư tư vấn tại đây.

2. Trường hợp, đối tượng, sự việc, vấn đề pháp lý nào nên tư vấn qua thư?

  • Đối với sự việc, vấn đề pháp lý lặp đi lặp lại. Khách hàng cần lưu giữ ý kiến tư vấn của Luật sư, Chuyên viên pháp lý ThinkSmart để sử dụng lâu dài, thường xuyên.
Ví dụ: Quý khách là chủ doanh nghiệp, yêu cầu ThinkSmart tư vấn xây dựng, soạn thảo hợp đồng lao động (mẫu). ThinkSmart đề xuất Quý khách hãy sử dụng dịch vụ tư vấn qua thư. Cụ thể: Chúng tôi sẽ gửi đến quý khách mẫu hợp đồng lao động và thư mô tả các nội dung trong hợp đồng lao động, cơ sở pháp luật. Quý khách có thể lưu trữ tài liệu này để sử dụng lâu dài cho nhiều người lao động khác nhau.
  • Đối với khách hàng đã nắm được toàn bộ sự việc, vấn đề pháp lý của mình và đã xác định chính xác mình cần Luật sư, Chuyên viên pháp lý Công ty luật ThinkSmart hỗ trợ nội dung gì.
  • Đối với khách hàng có nhu cầu sử dụng tài liệu, thư tư vấn của Luật sư ThinkSmart làm căn cứ để trao đổi, làm việc, đàm phán, giải thích với đối tác hoặc bên thứ ba khác.
  • Đối với khách hàng chưa sắp xếp được thời gian để gặp trực tiếp Luật sư, Chuyên viên pháp lý ThinkSmart.
  • Những trường hợp khác theo yêu cầu, mong muốn của Quý khách.

3. Hướng dẫn sử dụng dịch vụ tư vấn qua thư

Quý khách bấm vào mục “Tư vấn qua thư” nêu trên, điền các thông tin có trong biểu mẫu sau đó bấm nút “Gửi” ở cuối biểu mẫu. Ngay lập tức, ThinkSmart sẽ nhận được yêu cầu của Quý khách. Nhân sự của chúng tôi sẽ chủ động liên hệ với Quý khách để xác nhận thông tin, làm rõ vấn đề và báo giá dịch vụ tư vấn pháp luật qua thư.

Ngoài cách thức trên, Quý khách còn có thể yêu cầu tư vấn pháp luật qua thư bằng số điện thoại 1900 636391:

  • Nhánh số 1 – tư vấn về Dân sự gồm Đất đai, Thừa kế, Hôn nhân, Lao động, Hợp đồng, Nhà ở.
  • Nhánh số 2 – tư vấn về Kinh doanh – thương mại gồm: Tư vấn đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Thành lập – Hoạt động, Mua bán – Sáp nhập Doanh nghiệp, Tài chính – Ngân hàng.
  • Nhánh số 3 – tư vấn về Hình sự, Tố tụng Hình sự, Thi hành án Hình sự.
  • Nhánh số 4 – tư vấn về khiếu nại, khởi kiện Hành chính.
  • Nhánh số 5 – tư vấn các vấn đề khác.

4. Phí dịch vụ tư vấn pháp luật qua thư?

Tùy theo tính chất, mức độ phức tạp của vấn đề pháp lý và mong muốn, yêu cầu hỗ trợ của Quý khách (tư vấn định hướng hay chuyên sâu), ThinkSmart sẽ báo phí dịch vụ chính xác đến Quý khách.

Thông thường, phí dịch vụ tư vấn qua thư là 500.000 VND/trang thư tư vấn (A4).

III. Tư vấn trực tuyến qua hotline 1900 636391

1. Mô tả dịch vụ tư vấn luật trực tuyến

Khi Quý khách mong muốn ngay lập tức nhận tư vấn pháp luật, sự hỗ trợ từ Luật sư, Chuyên viên pháp lý ThinkSmart. Hãy kết nối trực tuyến với chúng tôi qua số điện thoại 1900 636391.

2. Trường hợp, đối tượng, sự việc, vấn đề pháp lý nào nên tư vấn qua điện thoại 1900 636391 ?

  • Đối với khách hàng ở bất cứ tỉnh, thành phố nào trên toàn quốc. Bởi việc tư vấn pháp luật qua điện thoại không bị giới hạn khu vực.
  • Đối với khách hàng có nhu cầu nhận tư vấn pháp luật định hướng, tổng quát (miễn phí).
  • Đối với khách hàng đã nhận tư vấn pháp luật thường xuyên từ ThinkSmart.
  • Đối với khách hàng cần kiểm tra năng lực – trình độ của Luật sư, Chuyên viên pháp lý ThinkSmart trước khi sử dụng các dịch vụ chuyên sâu hơn như: Luật sư tư vấn, Luật sư đại diện đàm phán với đối tác, Luật sư tranh tụng, … (đây là những dịch vụ luật sư phát sinh chi phí).
  • Đối với khách hàng chưa sắp xếp được thời gian để gặp trực tiếp Luật sư, Chuyên viên pháp lý ThinkSmart.
  • Đối với khách hàng cần hỗ trợ giải quyết vấn đề pháp lý ngay lập tức.
  • Những trường hợp khác theo yêu cầu, mong muốn của Quý khách.

3. Hướng dẫn sử dụng dịch vụ tư vấn luật trực tuyến 1900 636391

Để nhận tư vấn pháp luật định hướng tổng quan từ Luật sư ThinkSmart, mời Quý khách làm theo hướng dẫn sau:

  • Bước 1: Gọi đến hotline 1900 636391
  • Bước 2: Nghe và làm theo hướng dẫn. Cụ thể, Quý khách sẽ được nghe hướng dẫn từ tổng đài viên với nội dung như sau:
LỜI CHÀO TỔNG ĐÀI
Chào mừng quý khách đến với Công ty luật ThinkSmart. Thưa quý khách, chúng tôi không thu phí tư vấn, Quý khách chỉ thanh toán cước viễn thông là năm ngàn đồng một phút. Vui lòng làm theo hướng dẫn như sau:
– Để Nhận tư vấn về Dân sự gồm: Đất đai, Thừa kế, Hôn nhân, Lao động, Hợp đồng, Nhà ở, mời bấm phím 1.
– Nhận tư vấn về Kinh doanh – Thương mại gồm: Tư vấn đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Thành lập – Hoạt động, Mua bán – Sáp nhập Doanh nghiệp, Tài chính – Ngân hàng, mời bấm phím 2.
– Nhận tư vấn về Hình sự, mời bấm phím 3.
– Nhận tư vấn về khiếu nại, khởi kiện Hành chính, mời bấm phím 4.
– Để Nhận hỗ trợ các vấn đề khác, mời bấm phím 5.
– Để nghe lại, mời bấm phím 6.
  • Bước 3: Chọn phím bấm tương ứng với lĩnh vực pháp lý Quý khách cần tư vấn (theo hướng dẫn trên).
  • Bước 4: Nhận ý kiến tư vấn pháp luật từ Luật sư, Chuyên viên pháp lý ThinkSmart.

4. Phí dịch vụ tư vấn luật trực tuyến là bao nhiêu?

Khi sử dụng dịch vụ tư vấn luật trực tuyến qua điện thoại 1900 636391, sẽ phát sinh hai loại phí. Cụ thể:

  • Cước viễn thông (thanh toán cho Công ty viễn thông): 5.000 VND/phút
  • Phí dịch vụ tư vấn: MIỄN PHÍ

IV. Dịch vụ Luật sư khác

Kính thưa Quý khách hàng!

Ngoài các dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật đã nêu trên, Công ty luật ThinkSmart còn cung cấp các dịch vụ luật sư khác như:

  • Luật sư tư vấn pháp luật thường xuyên.
  • Luật sư tư vấn, bào chữa/bảo vệ thân chủ trong vụ án Hình sự.
  • Luật sư đại diện khiếu nại, khởi kiện Hành chính.
  • Luật sư đại diện đàm phán, tranh tụng, hòa giải tranh chấp Dân sự, Kinh doanh – Thương mại, Sở hữu trí tuệ, …
  • Luật sư tư vấn Thành lập – Hoạt động – Chấm dứt hoạt động Doanh nghiệp.
  • Luật sư gia đình (tư vấn Dân sự, Thừa kế, Đất đai, Hôn nhân và Gia đình).
  • Các dịch vụ Luật sư khác …

Đây là những dịch vụ chuyên sâu và trọn gói. Chúng tôi sẽ đề xuất nội dung chi tiết và báo giá của những dịch vụ này khi Quý khách cần sử dụng dịch vụ để giải quyết triệt để và hiệu quả vấn đề đang gặp phải.

Xin mời tham khảo toàn bộ Dịch vụ Luật sư của Công ty luật ThinkSmart tại đây:

3 thủ tục hành chính BHXH không tiếp nhận qua bưu điện

BHXH cho biết, hiện có 22 trong tổng số 25 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan này được thực hiện qua dịch vụ bưu điện, mang lại sự thuận tiện, tiết kiệm chi phí, thời gian cho các cá nhân, tổ chức.

Thủ tục hành chính BHXH mang lại sự thuận tiện cho cá nhân, tổ chức

Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành thực hiện và không thực hiện tiếp nhận, trả kết quả giải quyết qua dịch vụ Bưu chính công ích.

Trong đó, có nhiều thủ tục phổ biến, người dân thường giao dịch như: Đăng ký, điều chỉnh đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cấp sổ BHXH, thẻ bảo hiểm y tế; giải quyết hưởng chế độ ốm đau … Cùng với đó là thủ tục giải quyết hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng đối với cán bộ xã; giải quyết hưởng chế độ tử tuất …

Việc cắt, giảm thủ tục hành chính, hiện chỉ còn 25 thủ tục, đồng thời thực hiện tiếp nhận và trả kết quả các thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích của ngành BHXH, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các giao dịch với cơ quan BHXH.

3/25 thủ tục hành chính BHXH không tiếp nhận qua đường bưu điện

BHXH Việt Nam cho biết, hiện nay, chỉ còn 3 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH Việt Nam không thực hiện qua dịch vụ Bưu chính công ích là: Ủy quyền lĩnh thay các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp; Truy lĩnh lương hưu, trợ cấp BHXH của người hưởng đã chết nhưng còn chế độ chưa nhận; Thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

BHXH Việt Nam cũng lưu ý, ngoài sử dụng dịch vụ bưu chính công ích, việc nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính còn có thể thực hiện thông qua các hình thức khác như: Qua giao dịch điện tử; qua các doanh nghiệp bưu chính mà cá nhân, tổ chức lựa chọn (không phải là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích) hoặc nộp hồ sơ và nhận kết quả trực tiếp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội theo quy định.

Chuyên viên Đinh Thị Lan Anh – Bộ phận tư vấn Lao động – Bảo hiểm Công ty luật ThinkSmart đưa ra ý kiến tư vấn về Trình tự, thủ tục giải quyết 3 thủ tục hành chính BHXH phải thực hiện trực tiếp. Mời đón đọc vào Chủ nhật ngày 27/06/2021.

Tình hình tội phạm về môi trường và một số dự báo về xu hướng vận động

Ngô Ngọc Diễm – Nguyễn Thị Minh Nhật

Công ty luật ThinkSmart, Đoàn Luật sư TP Hà Nội

Tóm tắt: Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm về môi trường (TPMT) sẽ ngày càng diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất, tài nguyên nước, môi trường biển … tiếp tục là vấn đề mang tính toàn cầu, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế – xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với an ninh phi truyền thống. Xu hướng toàn cầu hóa, tội phạm môi trường có yếu tố nước ngoài gia tăng, diễn biến phức tạp, tinh vi khó phát hiện … sẽ hình thành những vi phạm pháp luật mới, thậm chí những vi phạm có tính chất nguy hiểm biến đổi thành tội phạm về môi trường, mang tính quốc tế cần phải phòng ngừa.

Từ khóa: Môi trường, tội phạm về môi trường, tình hình tội phạm, xu hướng vận động.

Summary: In fact, the situation of environmental crime will become more and more complicated, environmental pollution, infectious diseases, climate change, biodiversity loss, land and financial degradation. Water resources, marine environment … continue to be global issues, changing natural ecosystems and socio-economic life worldwide, becoming one of the biggest challenges for with non-traditional security. The trend of globalization, the increase in environmental crimes with foreign elements, complicated and sophisticated developments that are difficult to detect… will form new law violations, even dangerous ones. The risk of turning into an environmental crime is international and must be prevented.

Keywords: Environment, law violation, environmental crime, advocacy trend.

1. Khái niệm tình hình tội phạm về môi trường

Tình hình tội phạm (THTP) là một trong những thuật ngữ được dùng tương đối phổ biến ở Việt Nam khi nghiên cứu về tội phạm học. Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “tình hình” được hiểu là “Trạng thái, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng với tất cả những sự kiện diễn ra, biến đổi ở trong đó”[1]. THTP phạm được hiểu về mặt ngôn ngữ là tình hình của hiện tượng tội phạm đã xảy ra trên thực tế. Trong cuốn “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” của GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm định nghĩa tình hình tội phạm“là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định”[2]. Có thể hiểu tình hình tội phạm là trạng thái và xu thế vận động của hiện tượng tội phạm. Đây là cách hiểu mới khác với cách hiểu tương đối phổ biến hiện nay trong các tài liệu về tội phạm học bao gồm cả các giáo trình, sách chuyên khảo cũng như các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành.


[1] Xem: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá – thông tin, H., 1999, tr. 1649.

[2] Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. CAND, tr. 24.

Với giới hạn của bài viết, các tác giả sử dụng khái niệm THTP về môi trường cũng để chỉ TPMT là tội phạm hiện thực – đối tượng nghiên cứu của tội phạm học. Có nghĩa là nghiên cứu TPMT là một hiện tượng đã xảy ra trên thực tế về mức độ và tính chất, về nguyên nhân, điều kiện, phương thức hay thủ đoạn và biện pháp phòng ngừa cũng như dự báo về xu hướng vận động của nhóm tội phạm này đang xảy ra và có thể xảy ra trong thời gian tới. Từ cách đặt vấn đề trên có thể định nghĩa: Tình hình tội phạm về môi trường là thực trạng và diễn biến của tội phạm về môi trường đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định.

2. Thực trạng tội phạm về môi trường và thực tiễn xử lý

Thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua cho thấy, Việt Nam đã mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh hiệu quả về phát triển kinh tế xã hội. Việt Nam cũng đối diện với vấn đề môi trường bị ô nhiễm. Các khu công nghiệp, làng nghề, khu đô thị được hình thành nhanh chóng làm cho nguồn rác thải công nghiệp cũng như rác thải sinh hoạt đưa vào môi trường ngày càng nhiều, gây ô nhiễm không khí, đất, nước. Hầu hết các khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý môi trường tập trung hoặc có nhưng hoạt động chỉ mang tính chất đối phó; việc các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất xả nước thải trực tiếp ra sông, biển là khá phổ biến. Tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong nước, kể cả thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến nguy cơ biến nước ta thành bãi thải công nghiệp. Tình trạng săn bắt, buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm xảy ra hết sức nghiêm trọng, làm giảm tính đa dạng sinh học; số vụ ngộ độc thực phẩm, ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật tăng nhanh làm cho tình hình tội phạm về môi trường và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam ngày càng gia tăng, không những ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe và tài sản của cá nhân, tổ chức mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường nói chung.

Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05) Bộ Công an, trong 11 năm qua (từ năm 2010 đến năm 2020), toàn lực lượng đã phát hiện hơn 170.875 vụ vi phạm pháp luật về môi trường; xử lý hành chính 141.000 vụ, xử lý hình sự khởi tố hơn 2.624 vụ với 4.357 bị can; xử phạt vi phạm hành chính 97.000 vụ với số tiền 1.166 tỷ đồng[3]. Đặc biệt, đã điều tra, xử lý nhiều vụ phạm tội về môi trường, tập trung vào lĩnh vực, tài nguyên khoáng sản, an toàn thực phẩm xảy ra rất nghiêm trọng, phức tạp, gây bức xúc trong nhân dân. Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy, trong 11 năm từ năm 2010 đến năm 2020, hệ thống Tòa án nhân dân đã thụ lý 2.842 vụ án về môi trường với 4.445 bị cáo. Trong đó, xét xử 2.237 vụ với 4.145 bị cáo phạm tội về môi trường, chiếm 0,37% tổng số vụ án hình sự đã xét xử [4].


[3] Cục Cảnh sát phòng chống TPMT, Báo cáo tổng kết công tác, phòng chốngTPMT năm 2015 đến năm 2020.

[4] TAND tối cao, Vụ Thống kê (2019), Thống kê xét xử các vụ án về môi trường từ năm 2009 đến năm 2020.

Qua số liệu thống kê trên cho thấy tình hình tội phạm diễn ra có xu hướng ngày càng tăng, nhưng chủ yếu mới chỉ điều tra khởi tố và đưa ra xét xử đối với các hành vi vi phạm thuộc các tội danh: Gây ô nhiễm môi trường (Điều 235, chỉ khởi tố được cá nhân phạm tội), Hủy hoại rừng (Điều 243 BLHS) và tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm (Điều 244) và gần đây nhất tình hình dịch bệnh truyền nhiễm Covid 19 diễn biến phức tạp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với nhân loại, chúng ta đã khởi tố, truy tố, xét xử hành vi làm lây lan dịch bệnh (Điều 240). Trong khi đó, các tội danh khác, mặc dù gây hậu quả rất nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người dân và môi trường xung quanh nhưng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự được. Điển hình như vụ Vedan, Nicotex Thanh Thái, Hào Dương, Formosa Hà Tĩnh và gần đây nhất là vụ Gây ô nhiễm nước sạch Sông Đà chỉ xử lý được cá nhân, tuy nhiên pháp nhân thương mại (chủ quản lý nguồn chất thải nguy hại) thì không xử lý được …

3. Nguyên nhân, điều kiện, phương thức, thủ đoạn của tội phạm về môi trường

3.1. Nguyên nhân và điều kiện

Đất nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; nhập khẩu máy móc, phương tiện, thiết bị … phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy vậy công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này chưa chặt chẽ, cơ chế không rõ ràng là điều kiện phát sinh vi phạm.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, chế tài chưa đủ mạnh để răn đe; cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động của các lực lượng chuyên trách, trong đó có lực lượng Cảnh sát môi trường chưa hoàn chỉnh nên công tác phát hiện, điều tra, xử lý của các lực lượng này chưa mạnh mẽ, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.

Do áp lực tăng trưởng kinh tế địa phương, nhận thức chưa đầy đủ về hậu quả của tội phạm môi trường nên chính quyền một số địa phương, ban ngành kêu gọi đầu tư dàn trải, cấp phép kinh doanh ồ ạt, không quan tâm đến việc thẩm định ảnh hưởng của các dự án đối với môi trường. Chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, chưa chú trọng đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường.

Vụ án về môi trường thường liên quan đến nhiều tội danh khác nhau như tội danh về buôn lậu, buôn bán hàng cấm, hối lộ, tham nhũng[5] … nên phần tội danh về môi trường thường bị xem nhẹ, chưa kiên quyết tập trung điều tra, xử lý. Hậu quả của tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường phần lớn không xảy ra ngay mà tích luỹ theo thời gian, do vậy trong hoạt động điều tra không xác định rõ tính chất, mức độ nguy hiểm, không đánh giá đầy đủ thiệt hại gây ra nên thường chỉ xử lý bằng các biện pháp nhẹ (xử lý hành chính, cảnh cáo, nhắc nhở) không đủ mức độ răn đe và phòng ngừa tái phạm.


[5] Cục Cảnh sát phòng chống TPMT, Báo cáo tổng kết công tác, phòng chống TPMT từ năm 2015 đến năm 2020.

3.2. Phương thức và thủ đoạn

Hoạt động của tội phạm môi trường thường diễn ra khá phức tạp và hành vi phạm tội thường có sự chuẩn bị trước; người phạm tội có kiến thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; tội phạm thường câu kết với một số cán bộ thoái hoá trong cơ quan chức năng và chính quyền địa phương để được che chở, lách luật hoặc tìm cách cản trở hoạt động của lực lượng Cảnh sát môi trường và cơ quan chức năng. Nghiêm trọng hơn là sự câu kết giữa tội phạm môi trường trong nước với cá nhân, tổ chức ở nước ngoài tìm mọi kẽ hở của pháp luật và sơ hở trong công tác quản lý để nhập khẩu vào nước ta công nghệ, thiết bị lạc hậu; phế liệu có lẫn chất thải độc hại, dần biến nước ta thành bãi rác thải công nghiệp của các nước phát triển (trong lĩnh vực xuất nhập khẩu)[6].


[6] Ngô Ngọc Diễm & Trần Thị Hoài Anh (2016), “Bàn về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Bộ luật hình sự năm 2015”, Tạp chí TAND, tr. 1-5.

Hậu quả do tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường gây ra không xác định mức độ được ngay mà có tính tích luỹ theo thời gian. Do đó các cơ quan thực thi pháp luật thường có tâm lý chủ quan, xem nhẹ, thiếu quyết liệt trong đấu tranh, xử lý. Quá trình điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường, các cơ quan chức năng thường bị nhiều yếu tố tác động, thậm chí bị đối tượng cản trở bằng thủ đoạn như thông qua các hội nghề nghiệp, phương tiện thông tin đại chúng và các cơ quan chức năng để bao biện, do đó rất khó khăn cho công tác xử lý.

Trong một số lĩnh vực như: Lĩnh vực xuất nhập khẩu, các đối tượng lợi dụng chính sách “tạm nhập, tái xuất” và sơ hở trong công tác kiểm tra, giám sát, làm giả giấy tờ các cơ quan chức năng trong và ngoài nước, sử dụng “thủ đoạn trá hình” như kê khai hải quan gian dối hoặc kê khai hàng miễn kiểm, nguyên liệu sản xuất, thiết bị chuyển giao công nghệ, dự án phát triển kinh tế…, câu kết với các tổ chức nước ngoài để đối phó với cơ quan chức năng Việt Nam, khi bị phát hiện thì khai là “gửi nhầm hàng” và xin được chuyển trả…Trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên, bảo vệ rừng, lợi dụng việc giải phóng mặt bằng, các dự án tái định cư, phát quang biên giới, chuyển đổi “rừng nghèo” trồng cao su … trong điều kiện địa bàn rộng, hiểm trở, lực lượng quản lý lỏng lẻo để hoạt động khai thác vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng, khai thác khoáng sản trái phép … Đối với lĩnh vực sản xuất công nghiệp, khi lập dự án, doanh nghiệp không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, không đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại để tránh bị giám sát, kiểm tra và quan trắc môi trường định kỳ; không đầu tư vốn để xây dựng, vận hành hệ thống xử lý chất thải; có hệ thống xử lý chất thải nhưng không vận hành hoặc chỉ vận hành đối phó khi có thanh tra, kiểm tra. Trong lĩnh vực y tế, lợi dụng những kẽ hở trong các văn bản quy định về công tác quản lý chất thải y tế, sự lỏng lẻo trong quản lý của các cơ quan chức năng, một số bệnh viện hoặc cán bộ, nhân viên bệnh viện thu gom chất thải để bán cho tư thương nhằm thu lợi nhuận. Trong hoạt động dịch vụ xử lý chất thải, các tổ chức, cá nhân ký hợp đồng với các đối tượng không có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải, hoặc có chức năng nhưng do không kiểm tra giám sát nên đã sử dụng phương tiện vận chuyển không chuyên dụng, không xử lý, phân loại chất thải sau khi thu gom, chôn lấp xuống đất không đúng quy trình, chôn lẫn rác thải nguy hại với rác thải thông thường.

4. Dự báo xu hướng vận động của tội phạm về môi trường

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường diễn biến rất phức tạp, phổ biến trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Tội phạm môi trường đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu, chất lượng môi trường suy giảm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước. Trên một số địa bàn, lĩnh vực, hoạt động tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường gây phức tạp tình hình an ninh trật tự, có thể dự báo được xu hướng vận động của tội phạm về môi trường được thể hiện ở một số khía cạnh như sau:

Thứ nhất, xu hướng vận động của tình hình TPMT trong thời gian tới sẽ diễn ra phức tạp, gia tăng, ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnh vực môi trường.

TPMT được EIA đánh giá là một trong những hình thức tội phạm thu lợi nhuận lớn nhất lên tới hàng chục tỷ đô la mỗi năm. Sự gia tăng đột biến của TPMT cũng do đặc thù của loại tội phạm này không giống như những tội phạm bạo lực khác, các giao dịch cũng như hành vi nguy hiểm cho xã hội thường bị nhầm tưởng và đánh giá thấp hậu quả ảnh hưởng tới xã hội của nó [7].

Tại Việt Nam, theo số liệu được phân tích trong 11 năm qua, có thể thấy tình hình TPMT diễn biến phức tạp, số vụ ngày càng gia tăng mang tính đột biến cả về số lượng, quy mô và ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực môi trường. Qua thống kê phiếu điều tra xã hội học cũng cho thấy 190 ý kiến trên tổng số 250 chiếm tỉ lệ 76% số người được hỏi cho rằng tình hình các TPMT ở nước ta diễn biến phức tạp và đang có xu hướng gia tăng 200 ý kiến trên 250 phiếu hỏi, chiếm 80% số phiếu phát ra[8].


[7] Stettan Barrett (2017), “Disrupting environmental crime at the local level: an operational perspective”, Human Social Sciences, Vol3, (2), pp.7-10.

[8] Ngô Ngọc Diễm (2020), Các tội phạm về môi trường trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ – Phiếu khảo sát tình hình tội phạm về môi trường.

Các lĩnh vực mà các TPMT đã và đang tác động đến đó là: Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cơ bản, môi trường đô thị; lĩnh vực tài nguyên khoáng sản; lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, làng nghề; lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu và quản lý chất thải nguy hại; lĩnh vực môi trường y tế và an toàn vệ sinh thực phẩm … Qua thực tiễn cho thấy, các loại tội phạm này diễn ra ngày càng có tính phổ biến, khó nhận biết và kiểm soát nhưng hậu quả lại tác động xấu rất lớn đến môi trường.

Trong những năm tới, tình hình tội phạm thế giới sẽ ngày càng diễn biến phức tạp, tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất, tài nguyên nước, môi trường biển … tiếp tục là vấn đề mang tính toàn cầu, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế – xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thác thức lớn nhất. Các TPMT ngày càng đa dạng nhất là trong các lĩnh vực ô nhiễm hóa chất và kim loại nặng, ô nhiễm chất thải điện tử, ô nhiễm không khí do biến đổi khí hậu … sẽ hình thành những TPMT mới, mang tính quốc tế cần phải phòng ngừa.

Thứ hai, các tội phạm về môi trường tại Việt Nam có tính chất ngày càng tinh vi, khó phát hiện

Tính ẩn của TPMT khiến nó dường như khó phát hiện hơn các loại tội phạm khác, vì về bản chất, tội phạm có xu hướng chung là che giấu hành vi VPPL của mình[9].


[9] Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình tội phạm học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 45, Hà Nội.

Tính chất tinh vi, khó phát hiện của TPMT tại Việt Nam còn thể hiện ở chỗ, nó có thể bị che giấu thông qua các hình thức hợp pháp, ví dụ giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép nhập khẩu hàng hóa, hồ sơ hải quan giả mạo cũng như việc cấu kết giữa tội phạm với người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thông qua các hành vi tham nhũng. Yếu tố tham nhũng có thể coi là một trong những nguyên nhân khiến TPMT phát triển tinh vi và khó phát hiện. Bởi người có thẩm quyền có thể ngăn chặn thông tin, sự thật và che giấu mức độ phạm tội của TPMT trong khi nếu đánh giá đúng, có thể giải quyết hiệu quả hoặc ngăn chặn tội phạm hình thành. Không xử lý được TPMT, các đối tượng phạm tội càng thu được lợi nhuận lớn, càng gia tăng sự giàu có và tiếp tục sử dụng tiền phi pháp để mua chuộc, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi pháp luật môi trường.

Báo cáo của Interpol và Liên Hợp Quốc tại 70 quốc gia trên thế giới đã tập trung vào liên kết TPMT toàn cầu có trị giá lên tới 258 tỷ đô la hàng năm với các loại tội phạm khác đã chỉ ra rằng: 60% quốc gia cho thấy TPMT mới phát sinh và ngày càng tinh vi với những phương thức hiện đại, có sự liên kết xuyên quốc gia; 84% các quốc gia được khảo sát trong báo cáo cho thấy TPMT có mối quan hệ với tội phạm nghiêm trọng khác như tham nhũng, giả mạo, ma túy, tội phạm mạng và tội phạm tài chính[10]. Tại nhiều quốc gia đang phát triển ở Châu Phi và Châu Á, do nhu cầu kinh tế, nhiều người dân đã tham gia vào đường dây TPMT để khai thác tài nguyên một cách trái phép[11]. Những điển hình mà báo cáo này nêu ra cũng là những vấn đề mà Việt Nam sẽ phải đối mặt. Với tình hình TPMT có liên kết với những tội phạm nghiêm trọng khác, nhất là tham nhũng, cho thấy tình hình TPMT ngày càng phức tạp và tinh vi, với những thủ đoạn và sự lôi kéo thông qua các nguồn lợi bất chính khổng lồ. Điều này cảnh báo, nếu không có những phương thức đa ngành và kiên quyết, thì sẽ khó có thể đấu tranh phòng, chống TPMT hiệu quả.


[10] EPA, USEPA, Environmental protection and environmental crimes, America

[11] Cong Ma (2014), Problems of Chinese Environmental Criminal Law and Its Developing Trend, International Conference on Global Economy, Commerce and Service Science (GECSS 2014), p. 182-187.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình TPMT tiếp tục diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng, quy mô và phương thức, thủ đoạn phạm tội. Tình trạng trên đây, sẽ là những thách thức lớn đối với công tác BVMT ở nước, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có những biện pháp ngăn chặn, xử lí kịp thời. Trong điều kiện HTPL vẫn đang được sửa đổi, bổ sung sẽ có những sơ hở hoặc khoảng trống pháp lí mà các đối tượng lợi dụng thực hiện, che giấu các hành vi vi phạm.

Thứ ba, các tội phạm về môi trường có yếu tố nước ngoài có xu hướng gia tăng và Việt Nam trở thành nước trung chuyển của một số loại TPMT xuyên quốc gia

Trong những năm gần đây, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta đã cởi mở và tạo điều kiện hơn cho người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam đề đầu tư, du lịch, kinh doanh … Bên cạnh yếu tố tích cực như thúc đẩy các nguồn lực kinh tế để xây dựng và phát triển đất nước, tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài gia tăng với tính chất nghiêm trọng và phức tạp, trong đó có TPMT[12]. Ngoài ra, theo đánh giá của EIA, TPMT có bản chất là xuyên biên giới và trở thành các tập toàn tội phạm quốc tế. Trong thời đại tự do thương mại toàn cầu, giao tiếp có nhiều phương thức dễ dàng và dễ dàng vận chuyển hàng hóa, tiền bạc, càng tạo điều kiện cho các nhóm TPMT hoạt động [13]. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam cũng không tránh khỏi những sự tác động này khiến tình hình TPMT mang tính quốc tế tăng lên. TPMT có yếu tố nước ngoài thể hiện ở một số lĩnh vực sau:

i) Lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp: Chính sách mở cửa đầu tư và hội nhập kinh tế quốc tế đã thu hút không ít những nhà đầu tư nước ngoài tới thị trường Việt Nam. Bên cạnh những yếu tố tích cực, một trong những mặt trái của vấn đề đó là sẽ không ít doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng chính sách này để đưa vào các công nghệ lạc hậu, hoặc xâm hại môi trường để trục lợi từ việc cắt giảm chi phí do quy định, tiêu chuẩn của pháp luật về xử lý chất thải công nghiệp còn lỏng lẻo (như vụ Formosa là một ví dụ điển hình). Với tốc độ phát triển kinh tế nước ta thời gian tới, tất yếu có thêm nhiều nhà máy, nhiều khu công nghiệp hình thành. Sự yếu kém và thiếu đồng bộ của các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường cũng như thiếu hoàn thiện của pháp luật sẽ làm cho tội phạm trong lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp gia tăng;

ii) Lĩnh vực nhập khẩu máy móc, thiết bị lạc hậu, phế liệu: Đây là tình trạng chung của nhiều quốc gia đang phát triển và quốc gia kém phát triển, khi một lượng lớn máy móc, thiết bị lạc hậu, phế liệu lại trở thành nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất. Lượng rác thải khổng lồ mà các quốc gia phát triển cần phải vứt bỏ lại được vận chuyển tới các quốc gia này, trong đó có Việt Nam. Việc xử lí trái phép chất thải nguy hại, phế thải vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi, một phần nguyên nhân là do công tác tổ chức giám sát thực hiện qui chế quản lí chất thải nguy hại chưa nghiêm, chưa thường xuyên, đã tạo điều kiện cho các đơn vị vi phạm. Cũng vì vấn đề lợi nhuận và sinh kế, mà loại tội phạm này sẽ vẫn tiếp diễn trong thời gian tới;

iii) Lĩnh vực buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm: Hoạt động mua bán, vận chuyển, động vật hoang dã, quý hiếm để xuất trái phép ra nước ngoài tiêu thụ vẫn diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn cho công tác đấu tranh, xử lý. Thời gian qua, lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường đã khám phá một số đường dây buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm ra nước ngoài và từ nước ngoài tạm nhập về Việt Nam để xuất sang nước thứ 3. Điển hình vụ Công ty cổ phần XNK Talu nhập 33 tấn Tê tê đông lạnh qua cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh; vụ Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển Móng Cái (Quảng Ninh) nhập qua cửa khẩu Cầu Treo 3.800kg động vật hoang dã gồm rùa và rắn ráo trâu (thuộc nhóm 2B) có xuất xứ từ Malaysia, vận chuyển về Móng Cái để xuất đi Trung Quốc … Theo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật mỗi năm Việt Nam có tới trên 3000 tấn động vật với 150 đến 200 loài bị săn bắt, buôn bán trái phép; trong đó có khoảng 45% tiêu thụ ở trong nước, còn lại được bán sang Trung Quốc và các nước trong khu vực, các loài động vật bị săn bắt chủ yếu là rắn, rùa, kỳ đà, khỉ [14];

iv) Lĩnh vực khai thác khoáng sản: Đây là lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm, các đối tượng lợi dụng chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, để khai thác, xuất khẩu trái phép tài nguyên, khoáng sản, không chú trọng đánh giá tác động đến môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, cạn kiệt nguồn tài nguyên. Do vẫn phát triển dựa vào khai thác tài nguyên là chính nên nền kinh tế và môi trường tự nhiên của nước ta đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề còn kéo dài đến tương lai.


[12] Ngô Ngọc Diễm (2019), “TPMT có yếu tố nước ngoài – Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và biện pháp xử lý”, Tạp chí Công thương, tr. 27-31.

[13] Stettan Barrett (2017), “Disrupting environmental crime at the local level: an operational perspective”, Human Social Sciences, Vol3, (2), p.7-10.

[14] Cục Cảnh sát phòng chống TPMT, Báo cáo tổng kết công tác, phòng chống TPMT năm, 2019, 2020, Hà Nội.

Thứ tư, xu hướng toàn cầu hóa tác động đến lĩnh vực BVMT và tình hình TPMT

Không phải từ bây giờ, các nhà nghiên cứu mới cảnh báo về mặt trái của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu trong thế giới hiện đại mà không quốc gia nào có thể nằm ngoài sự vận động đó. Toàn cầu hóa kéo theo một chuỗi phản ứng tiêu cực, đó là sự di tản của các công ty đa quốc gia nơi nền kinh tế phát triển, quy định về môi trường ngặt nghèo tới các quốc gia đang phát triển với nhân công rẻ, pháp luật BVMT còn lỏng lẻo. Đó là hệ quả của toàn cầu hóa, cái giá phải trả cho những quốc gia đánh đổi để phát triển kinh tế trước mắt: môi trường bị hủy hoại. Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, song mang lại cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Thế giới ngày càng có tính liên kết, liên tác động bởi các bệnh dịch, thương mại, chủ nghĩa khủng bố, du lịch, di cư, truyền thông, Internet, và cả nạn ô nhiễm – trong đó có vấn đề khí nhà kính và sự biến đổi môi trường toàn cầu, kết quả là sự liên kết về các vấn đề sức khoẻ, sự sống và rủi ro môi trường cần được chung tay dự báo và khắc phục.


5. Lời kết

Từ những phân tích trên đây, có thể thấy được xu hướng vận động của TPMT trong thời gian tới tập trung vào các vấn đề sau:

i)TPMT sẽ tăng cao, nhiều hành vi xâm phạm môi trường mới xuất hiện với sự tinh vi, khó đánh giá hành vi nguy hiểm cho xã hội, cho môi trường cũng như hậu quả nguy hiểm của nó.

ii) Tội phạm môi về trường quốc tế (hay TPMT xuyên quốc gia) sẽ hình thành các đường dây chuyên nghiệp và rõ nét hơn, với sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức trong nước cũng như nước ngoài.

iii)TPMT trong nước sẽ phức tạp hơn, nhất là với các pháp nhân thương mại, tổ chức khác liên quan đến thể chế chính sách của Nhà nước.

Có thể thấy, TPMT được nhìn nhận trên phương diện là tội phạm phi truyền thống, loại tội phạm mới khó nhận diện, khó kiểm soát vì tính chất, diễn biến phức tạp, kéo dài có tính liên vùng, liên lãnh thổ. Chính vì vậy, dự báo được tình hình về TPMT và xu hướng vận động của TPMT đã phần nào kiểm soát được sự gia tăng của loại tội phạm mới – phi truyền thống nhưng đặt ra những thách thức lớn trong thời gian tới trong công tác phòng ngừa và xử lý.

Luật sư tư vấn trình tự, thủ tục thành lập tổ chức tín dụng

I. Lời mở đầu

Một tổ chức tín dụng khi thành lập cần đáp ứng những điều kiện về mặt pháp lý như thế nào? Nội dung này sẽ được Công ty Luật ThinkSmart hướng dẫn cách cụ thể như sau:

II. Giải thích Thuật ngữ

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm: Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng.

Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.

III. Trình tự, thủ tục thành lập tổ chức tín dụng

Để thực hiện thủ tục thành lập tổ chức tín dụng, mời Quý khách tham khảo những nội dung sau đây:

1. Điều kiện thành lập tổ chức tín dụng

– Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định. 

– Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng đáp ứng các điều kiện  là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn. Điều kiện của cổ đông sáng lập là cá nhân được quy định tại điều 9 Thông tư 40/2011/TT-NHNN. Đồng thời tổ chức tín dụng phải có tối thiểu  02 cổ đông là tổ chức.

Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định.

– Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2010;

– Có Điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật về doanh nghiệp.

– Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Trong trường hợp tổ chức tín dụng liên doanh hoặc tổ chức tín dụng có 100% vốn nước ngoài thì bên cạnh các điều kiện trên còn phải đáp ứng những điều kiện sau:

  • Tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật của nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính;
  • Hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải là hoạt động mà tổ chức tín dụng nước ngoài đang được phép thực hiện tại nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính;
  • Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có hoạt động lành mạnh, đáp ứng các điều kiện về tổng tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
  • Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có văn bản cam kết hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản trị, điều hành, hoạt động cho tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài; bảo đảm các tổ chức này duy trì giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định và thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn của Luật này;
  • Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng, trao đổi thông tin giám sát an toàn ngân hàng và có văn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài.

2. Hồ sơ thành lập tổ chức tín dụng

  • Đơn đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức tín dụng;
  • Dự thảo Điều lệ được hội nghị thành lập hoặc chủ sở hữu thông qua;
  • Đề án thành được hội nghị thành lập hoặc chủ sở hữu thông qua;
  • Danh sách nhân sự dự kiến bầu, bổ nhiệm làm Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên khác của Ban kiểm soát, Giám đốc quỹ tín dụng nhân dân;
  • Tài liệu chứng minh năng lực của những người dự kiến bầu, bổ nhiệm làm Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên khác của Ban kiểm soát, Giám đốc quỹ tín dụng nhân dân;
  • Danh sách các thành viên tham gia góp vốn thành lập tổ chức tín dụng. Danh sách phải được tất cả thành viên tham gia góp vốn ký xác nhận;
  • Bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu (đối với thành viên là cá nhân, người đại diện của pháp nhân, hộ gia đình). Đối với thành viên là cán bộ, công chức phải có thêm giấy xác nhận nơi công tác, bản sao quyết định tuyển dụng của cơ quan, đơn vị tuyển dụng; Bản sao sổ hộ khẩu (đối với thành viên là hộ gia đình); Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với thành viên là pháp nhân);
  • Đơn đề nghị tham gia thành viên;
  • Biên bản Hội nghị thành lập;
  • Dự thảo các quy định nội bộ theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật các tổ chức tín dụng và các quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát quỹ tín dụng nhân dân;

3. Trình tự thủ tục thành lập tổ chức tín dụng

  • Soạn thảo hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức tín dụng 
  • Xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức tín dụng 
  • Tiến hành đăng ký kinh doanh như doanh nghiệp 
  • Công bố nội dung thông tin đăng ký doanh nghiệp
  • Khai trương và hoạt động chính thức

4. Thời gian thực hiện

Xin cấp Giấy phép đăng ký thành lập tổ chức tín dụng: 15 – 20 ngày làm việc Kể từ ngày nộp hồ sơ.

Xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp: 10 – 15 ngày làm việc Kể từ ngày nộp hồ sơ.

IV. Dịch vụ Luật sư tư vấn trình tự thủ tục thành lập tổ chức tín dụng

Trong quá trình thực hiện thủ tục thành lập tổ chức tín dụng  , nếu có khó khăn, vướng mắc, đội ngũ Luật sư ThinkSmart luôn sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ Quý khách. Khi kết nối với ThinkSmart, Quý khách sẽ được cung cấp dịch vụ Luật sư tư vấn tư vấn trình tự thủ tục thành lập tổ chức tín dụng, với các nội dung cụ thể sau đây:

1. Nội dung công việc

  • Nhận tư vấn định hướng miễn phí: quy trình, điều kiện, hồ sơ, thủ tục thành lập tổ chức tín dụng  
  • Nhận tư vấn chuyên sâu: quy trình, điều kiện, hồ sơ, thủ tục thành lập tổ chức tín dụng  
  •  Luật sư ThinkSmart phân tích pháp lý, đưa ra các phương án giải quyết vấn đề, đồng thời phân tích chặt chẽ ưu điểm – nhược điểm của từng phương án đó. Điều này giúp Quý khách có cái nhìn tổng thể và khách quan nhất về kết quả dự kiến đạt được.
  • Quý khách chủ động quyết định phương án thành lập tổ chức tín dụng.
  • Luật sư ThinkSmart xây dựng, soạn thảo đầy đủ hồ sơ, văn bản theo thủ tục thành lập tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật.
  • Luật sư ThinkSmart đại diện Quý khách đi nộp hồ sơ, làm việc với các bên thứ ba như Toà án, Viện kiểm sát, …
  • Nhận kết quả sau khi công bố thành lập tổ chức tín dụng thành công (hoàn thành mục tiêu của Quý khách).

2. Các gói dịch vụ

Dựa trên nhu cầu của bản thân, Quý khách có thể lựa chọn 1 trong 3 gói dịch vụ như sau:

  • Gói 1: Luật sư tư vấn: quy trình, điều kiện, hồ sơ, thủ tục thành lập tổ chức tín dụng
  • Gói 2: Luật sư tư vấn và xây dựng, soạn thảo hồ sơ: quy trình, điều kiện, hồ sơ, thủ tục thành lập tổ chức tín dụng
  • Gói 3: Luật sư tư vấn và đại diện Quý khách thực hiện toàn bộ công việc. Ghi chú: Với những công việc bắt buộc phải có sự hiện diện của Quý khách theo luật định, ThinkSmart sẽ cử nhân sự đồng hành cùng Quý khách.

3. Cách thức kết nối

Để nhận tư vấn về trình tự thủ tục thành lập tổ chức tín dụng, Quý khách có thể dễ dàng kết nối với ThinkSmart thông qua 1 trong 3 cách thức sau đây:

4. Nguyên tắc hoạt động, cam kết

Trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý cho Quý khách nói riêng và quá trình hoạt động nghề nghiệp nói chung, ThinkSmart cam kết tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc sau đây:

i. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

ii. Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

iii. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.

iv. Bảo mật thông tin Khách hàng.

v. Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

vi. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư.

V. Lời kết

Trên đây là nội dung tư vấn của Công ty luật ThinkSmart về trình tự, thủ tục trình tự thủ tục thành lập tổ chức tín dụng. Trân trọng cảm ơn Quý khách đã quan tâm và tin dùng dịch vụ pháp lý của ThinkSmart./.