Mục lục

Hỏi: A và B đang trao đổi mua bán ma túy thì bị phát hiện. Trong quá trình điều tra, A khai nhận đã làm giả ma túy để bán cho B. Kết quả giám định cũng cho thấy "hàng hoá" mà A và B giao dịch không chứa chất ma túy. Trong trường hợp này, A và B có bị xem xét TNHS về tội Mua bán trái phép chất ma tuý?

Luật sư ThinkSmart tư vấn xác định tội danh của A và B như sau:

Về hành vi của A

Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này. Do đó, nếu A thực hiện hành vi làm giả ma túy để chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì mức phạt lên tới 3 năm tù. Mức phạt cao nhất có thể lên tới 20 năm tù hoặc tù chung thân nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên. Ngoài ra, A còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Về hành vi của B

B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy bởi lẽ mặc dù chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. Ghi chú: việc ma túy bị làm giả nằm ngoài tính toán của B. Hơn nữa, B cũng đã tiến hành và hoàn tất thủ tục giao dịch mua bán ma túy với A.

Tóm lại, để xác định đúng trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào các trường hợp cụ thể để xác định tội phạm chính xác nhất, tránh để trình trạng xác định nhầm tội phạm, làm ảnh hưởng đến công tác điều tra, xử lý của các cơ quan tư pháp, cũng như với bản thân người phạm tội.

Cơ sở pháp lý: Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP sửa đổi, bổ sung một số điểm của thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công An, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999.

Trên đây là nội dung tư vấn của ThinkSmart về vấn đề liên quan đến việc trao đôi mua bán ma túy giảm mạo. Trân trọng cảm ơn Quý khách đã quan tâm và tin dùng dịch vụ pháp lý của ThinkSmart./.

Bài viết liên quan

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.

Dùng vũ lực để đòi lại tiền đã cho vay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

A vay tiền của B số tiền 50tr với thời hạn 2 tháng. Sau 2 tháng B đòi thì A nói chưa có đủ nên không thể trả được, thời gian trôi đi B vẫn đòi nhưng A đưa ra nhiều lý do để không trả nợ (A không trốn tránh). Sau 8 tháng, B rủ C cùng mình đi tìm A để đòi nợ, trên đường đi B và C gặp A đang đi chơi. Thấy vậy C nhảy xuống túm cổ áo, đấm và giữ A để B lục soát nơi giấu tiền, trong cốp xe của A có 100tr nhưng B chỉ lấy 50tr rồi bỏ đi. Xác định TNHS của các đối tượng A, B, C.

Hành vi buôn lậu và những trách nhiệm pháp lý phải đối mặt

Thời gian gần đây, hoạt động buôn lậu đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Đặc biệt là ở các vùng biên giới, người phạm tội với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đã qua mắt lực lượng kiểm tra để thực hiện những phi vụ trót lọt. Tội buôn lậu được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước.

Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất

(LSVN) - Thời hạn sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên có liên quan đến quyền sử dụng đất. Hiện nay, pháp luật đất đai trên cơ sở đặc thù của từng loại đất, quỹ đất và đặc biệt là chính sách quản lý đất đai đã quy định thời hạn sử dụng đất đối với nhóm chủ thể thuộc các trường hợp sử dụng đất.