Mục lục

Bộ luật dân sự là đạo luật rất quan trọng của mỗi quốc gia, có tác động trong việc điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản của xã hội, mỗi công dân, các gia đình, cơ quan, tổ chức. Bộ luật Dân sự 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015, chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017.

Về phạm vi, Bộ luật dân sự 2015 điều chỉnh các quan hệ dân sự, bao gồm các quy định về địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (Điều 1 Bộ luật dân sự 2015).

Về nguyên tắc áp dụng, Bộ luật dân sự với tư cách là luật gốc điều chỉnh các quan hệ dân sự. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của Bộ luật dân sự được áp dụng. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế (Điều 4 Bộ luật dân sự 2015).

Từ quy định này có thể thấy nguyên tắc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Thứ nhất,

Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực thấp hơn điều ước quốc tế, khi có sự khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quy định này phù hợp với khoản 1 Điều 6 Luật điều ước quốc tế 2016, theo đó trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.

Thứ hai,

Bộ luật dân sự 2015 có địa vị pháp lý là luật gốc điều chỉnh các quan hệ dân sự bên cạnh các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, ... Về nguyên tắc luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Trường hợp luật chuyên ngành không có quy định hoặc quy định trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng Bộ luật dân sự.

Bài viết liên quan

Miễn trách nhiệm dân sự vì lý do Covid-19?

Đại dịch COVID-19 đang càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây ra nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ lên mọi mặt của đời sống xã hội. Việc thực hiện các giao dịch dân sự trong bối cảnh dịch bệnh gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề pháp lý đặt ra là liệu các bên trong giao dịch có thể viện dẫn Covid-19 làm lý do để được miễn trách nhiệm dân sự?

Các vấn đề về thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự

Công ty Luật ThinkSmart trả lời thắc mắc của bạn đọc về một số vấn đề về thừa kế theo pháp luật.

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.

Dùng vũ lực để đòi lại tiền đã cho vay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

A vay tiền của B số tiền 50tr với thời hạn 2 tháng. Sau 2 tháng B đòi thì A nói chưa có đủ nên không thể trả được, thời gian trôi đi B vẫn đòi nhưng A đưa ra nhiều lý do để không trả nợ (A không trốn tránh). Sau 8 tháng, B rủ C cùng mình đi tìm A để đòi nợ, trên đường đi B và C gặp A đang đi chơi. Thấy vậy C nhảy xuống túm cổ áo, đấm và giữ A để B lục soát nơi giấu tiền, trong cốp xe của A có 100tr nhưng B chỉ lấy 50tr rồi bỏ đi. Xác định TNHS của các đối tượng A, B, C.