Mục lục

Để làm rõ vấn đề này, ngày 25/3/2021 Tổng cục thuế đã ban hành Công văn 833/TCT-DNNCN về việc quản lý thuế đối với giao dịch “lan đột biến”.

Theo đó việc quản lý thuế đối với các giao dịch này như sau:

1. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia trồng trọt, chăm sóc lan đột biến và chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác thì không chịu thuế GTGT và được miễn thuế TNCN.

- Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không trồng trọt, phát sinh giao dịch mua bán lan đột biến thì phải nộp thuế GTGT là 1% và thuế TNCN là 0,5%.

2. Đối với doanh nghiệp

Về chính sách Thuế GTGT

- Trường hợp lan đột biến do doanh nghiệp tự trồng và bán ra thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

- Trường hợp lan đột biến do doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán cho doanh nghiệp khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải nộp thuế GTGT.

- Trường hợp lan đột biến do doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán cho hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác ở khâu kinh doanh thương mại thì phải nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5%.

- Trường hợp lan đột biến do doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bán ở khâu kinh doanh thương mại thì nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu.

Về chính sách Thuế TNDN

- Doanh nghiệp có thu nhập từ việc bán lan đột biến thì thuộc đối tượng phải nộp thuế TNDN theo quy định.

- Trường hợp doanh nghiệp đáp ứng "thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn" thì được miễn thuế TNDN.

Bài viết liên quan

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.

Dùng vũ lực để đòi lại tiền đã cho vay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

A vay tiền của B số tiền 50tr với thời hạn 2 tháng. Sau 2 tháng B đòi thì A nói chưa có đủ nên không thể trả được, thời gian trôi đi B vẫn đòi nhưng A đưa ra nhiều lý do để không trả nợ (A không trốn tránh). Sau 8 tháng, B rủ C cùng mình đi tìm A để đòi nợ, trên đường đi B và C gặp A đang đi chơi. Thấy vậy C nhảy xuống túm cổ áo, đấm và giữ A để B lục soát nơi giấu tiền, trong cốp xe của A có 100tr nhưng B chỉ lấy 50tr rồi bỏ đi. Xác định TNHS của các đối tượng A, B, C.

Hành vi buôn lậu và những trách nhiệm pháp lý phải đối mặt

Thời gian gần đây, hoạt động buôn lậu đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Đặc biệt là ở các vùng biên giới, người phạm tội với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đã qua mắt lực lượng kiểm tra để thực hiện những phi vụ trót lọt. Tội buôn lậu được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước.

Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất

(LSVN) - Thời hạn sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên có liên quan đến quyền sử dụng đất. Hiện nay, pháp luật đất đai trên cơ sở đặc thù của từng loại đất, quỹ đất và đặc biệt là chính sách quản lý đất đai đã quy định thời hạn sử dụng đất đối với nhóm chủ thể thuộc các trường hợp sử dụng đất.