Mục lục

Ngô Ngọc Diễm - Nguyễn Văn Lâm

Công ty Luật ThinkSmart – Đoàn Luật sư Hà Nội

Tóm tắtBài viết này luận giải “tiếng ồn” có lẽ là chất gây ô nhiễm môi trường đầu tiên (ngoài chất thải của con người) trong thế giới Cổ đại[1]. Tác động và hậu quả của tiếng ồn đối với con người và đa dạng sinh học nói chung đã được quy định trong pháp luật hình sự (PLHS) một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, so với các vấn đề môi trường khác, tiếng ồn và bảo vệ khỏi ảnh hưởng của nó thường dễ bị bỏ qua, hay chăng chỉ được quy định trong luật chuyên ngành như Luật Bảo vệ môi trường (BVMT). Ô nhiễm tiếng ồn đã được đặt ra từ lâu, nhưng dường như chưa có biện pháp xử lý triệt để. Từ thực tế cho thấy, tiếng ồn đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt giảm thiểu đáng kể chất lượng cuộc sống của con người. Trong bài viết này, tác giả mạnh dạn đề xuất việc quy định tiếng ồn là một loại hành vi bị cấm cần được quy định trong pháp luật hình sự.

Từ khóa: Tiếng ồn, gây ô nhiễm môi trường, Luật Bảo vệ môi trường, pháp luật hình sự.

1. Đặt vấn đề

Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 đã tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến lĩnh vực môi trường. So với BLHS năm 1999, trong lĩnh vực này BLHS năm 2015 có nhiều quy định về các tội phạm mới trong đó có nhóm tội phạm về môi trường. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đến lĩnh vực BVMT và ngày càng sử dụng một cách rộng rãi hơn công cụ PLHS để bảo vệ lĩnh vực môi trường. Đây là hướng phát triển hợp quy luật của PLHS khi quyền được thụ hưởng môi trường của con người ngày càng được coi trọng và nâng cao. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng PLHS cho thấy việc BVMT bằng các quy định của PLHS vẫn chưa được đầy đủ, chưa ngăn ngừa hết các nguy cơ xâm hại đến môi trường sống trong lành của con người.

Một trong những tác nhân đó là ô nhiễm môi trường của tiếng ồn, các nghiên cứu cho thấy nó tác động xấu lên con người ở 3 khía cạnh: Che lấp âm thanh cần nghe, làm suy giảm phản xạ tự nhiên của con người với âm thanh; gây bệnh đối với thính giác và hệ thần kinh; gián tiếp gây ra bệnh tim mạch…Tất cả những tác động này dẫn đến nhiều biểu hiện xấu về tâm lý, sinh lý, bệnh lý, ảnh hưởng đến hiệu quả lao động, nhất là đối với những cư dân đô thị. Tuy nhiên hành vi gây tiếng ồn chưa được nhà làm luật quan tâm tới như các vấn đề khác ở đô thị như kiến ​​trúc hoặc quy hoạch. Có thể, lý do chính cho điều này là tiếng ồn không có khả năng lan truyền rộng giống như các dạng ô nhiễm khác. Tiếng ồn cũng là một dạng ô nhiễm môi trường bất thường nhưng không tồn tại dưới dạng vật chất có thể cầm nắm hay nhìn thấy bằng mắt thông thường như chất thải rắn, nước thải mà chủ yếu chỉ có thể nhận biết thông qua thính giác và được giải thích một cách chủ quan. Tác động và hậu quả của tiếng ồn do con người gây ra đối với con người và đa dạng sinh học nói chung hiện đang được nghiên cứu và quy định trong Luật BVMT và chưa được đề cập trong PLHS với tư cách là các quy định hướng tới BVMT. Bài viết với mục đích là cung cấp một cái nhìn tổng quan về tiếng ồn và sự tác động tiêu cực của nó đối với môi trường đến mức cần phải được điều chỉnh bằng công cụ PLHS.

2. Các tiêu chí cần đặt ra để tội phạm hóa hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn

Bản chất của quá trình“tội phạm hóa” là ghi nhận trong PLHS một hành vi nào đó là tội phạm và quy định TNHS đối với việc thực hiện hành vi đó[2]. Theo quan niệm phổ biến trong xã hội và ngay cả trong giới luật học, thì “tội phạm hóa, hình sự hóa cũng như phi hình sự hóa, phi tội phạm hóa” là những vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp. Bởi vì, việc đánh giá một hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, đáng bị trừng phạt và phải quy định trong Luật hình sự nói chung, là vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp. Và cũng như vậy, quyết định công nhận một hành vi, một loại hành vi nào đó thường xảy ra trong đời sống xã hội là tội phạm, hoặc quyết định đưa ra khỏi các đạo luật hình sự những quy định về hành vi nào đó từng được coi là tội phạm không thể là thẩm quyền của ai khác, ngoài cơ quan lập pháp. Tương tự như thế, vấn đề quy định tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những hành vi xử sự xã hội nào đó đã được quy định trong BLHS cũng thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp[3]. Việc tội phạm hóa phải được tuân thủ bởi các tiêu chí sau:

i) Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây ô nhiễm môi trường của tiếng ồn. Đây là một thuộc tính cơ bản, điển hình và bắt buộc đối với một hành vi tội phạm. Do đó, khi tiến hành tội phạm hóa một hành vi nào đó thì tính nguy hiểm cho xã hội phải được xem xét như một tiêu chí quan trọng nhất quyết định đến việc có thể tội phạm hóa một hành vi tồn tại trong xã hội hay không. Tính nguy hiểm cho xã hội của một hành vi thể hiện trên hai khía cạnh “tính chất” “mức độ” nguy hiểm. Trong đó, tính chất nguy hiểm cho xã hội của một hành vi dựa trên quan hệ xã hội mà nó xâm hại và sự đánh giá từ góc nhìn của nhà làm luật. Đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của tiếng ồn, quan hệ xã hội được pháp luật và nhà nước bảo vệ là quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân và quyền quản lý của nhà nước đối với việc BVMT. Đây là một loại quan hệ xã hội phát sinh từ khá lâu nhưng cùng với sự phát triển của xã hội và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống thì gần đây mới được coi trọng. Còn “mức độ” nguy hiểm của hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn thể hiện ở mức độ xâm hại, đe dọa xâm hại của hành vi đối với quan hệ pháp luật được bảo vệ như sức khỏe, tính mạng con người... Đây cũng chính là căn cứ để xác định một hành vi vi phạm pháp luật hành chính hay vi phạm PLHS và là cơ sở để phân loại tội phạm. Đối với ô nhiễm tiếng ồn, hiện nay mới có xử phạt hành chính về hành vi gây tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép theo khoản 8 điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2014 và được sửa đổi thành khoản 4 Điều 6 Luật BVMT năm 2020. Tuy nhiên, lại không quy định cụ thế hay giải thích thế nào là “gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo” phải dùng đến các văn bản hướng dẫn dưới luật các quy định này mới được làm rõ cụ thể. Theo quy định tại Mục 2.1 Thông tư 39/2010/TT-BTNMT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường thì giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn tại khu vực thông thường (khu chung cư, các nhà ở riêng lẻ nằm cách biệt hoặc liền kề, khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan hành chính) là: 70dBA (từ 6h đến 21h) và 55dBA (21h đến 6h). Nếu hành vi sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt gây ra tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép trên thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 10 Điều 17 Nghị định 155/2016/NĐ-CP. Ngoài ra, có thể còn phải bồi thường theo quy định Điều 624 bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường của Bộ luật dân sự 2015. Tuy nhiên, việc xử phạt hành chính như hiện nay là không đủ sức răn đe. Thực tiễn cho thấy, quy định của pháp luật cũng như cơ quan chức năng đang khá coi nhẹ việc gây ô nhiễm môi trường của tiếng ồn. Mặt khác, việc đánh đồng trách nhiệm khi xử phạt hành chính đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của tiếng ồn là từ 40 dBA trở lên tại khoản 10 Điều 17 Nghị định 155/2016/NĐ-CP là không phù hợp. Bởi lẽ, theo các nghiên cứu cho thấy đối với tiếng ồn có cường độ trên 80 dBA bắt đầu gây nguy hiểm lớn và ảnh hưởng đến khả năng nghe tạm thời của tai. Người bình thường chỉ có thể chịu đựng được đối với tiếng ồn có cường độ từ 100 dBA trong vòng 15 phút trước khi bị điếc hoàn toàn. Như vậy, đối với các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn từ 80dBA trở lên sẽ gây ra mức độ nguy hiểm tướng đối nghiêm trọng và tức thì đối với con người mà trực tiếp là sức khoẻ và khả năng thính giác. Đây là những quan hệ xã hội quan trọng mà nhà nước buộc phải bảo vệ ở mức cao nhất bằng các chế tài hình sự. Hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn đến một cường độ nhất định sẽ tạo ra tính nguy hiểm rất lớn đối với xã hội và hậu quả của nó. Vì vậy, cần xem xét việc hình sự hóa các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn đạt đến mức độ nguy hiểm cao cho xã hội như đã phân tích.

ii) Tính phổ biến và thường xuyên của hành vi gây ô nhiễm môi trường của tiếng ồn. Theo đó vi này để dẫn đến mức tội phạm hóa phải xảy ra có tính thường xuyên, liên tục thể hiện thông qua hoạt động thống kê của các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền trong hoạt động thực tiễn. Xét về mặt xã hội, hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn chỉ có thể bị tội phạm hóa khi nó xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lần trong nhiều ngành lĩnh vực trong một khoảng thời gian nhất định và phải chịu sự lên án và phản đối của phần đông xã hội. Không thể tội phạm hóa hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn nếu nó chỉ diễn ra một lần vì tính đơn lẻ của hành vi, như vậy không đủ để đe dọa và gây nguy hiểm cho cả xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, ô nhiễm tiếng ồn đang là một vấn nạn thường xuyên, phổ biến trên cả nước mà nhất là đối với các thành phố lớn với kết cấu hạ tầng công nghiệp, dân cư và giao thông đồ sộ. Các nhà điều tra xã hội học thống kê các nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn phổ biến như: còi xe các loại; âm thanh phát ra từ nơi sản xuất, công trình xây dựng, hát karaoke tại khu dân cư, loa kéo, cửa hàng dùng loa quảng cáo[4]... đã trở thành nỗi nhức nhối ở toàn quốc, đặc biệt ở khu vực thành thị. Điển hình ở thành phố Hà Nội, kết quả nghiên cứu và đánh giá của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường tại 12 đường và nút giao thông chính tại Hà Nội cho thấy, tiếng ồn trung bình vào ban ngày là 77,8 đến 78,1 DBA, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 7,8 đến 8,1 DBA. Tiếng ồn tương đương trung bình vào ban đêm là 65,3 - 75,7 dBA, vượt tiêu chuẩn từ 10 - 20 DBA. Và các chỉ số này tương đối ổn định và phân bổ đều nhất là đối với các quận trung tâm[5]. Và một nghiên cứu nước ngoài cho thấy hậu quả của việc ô nhiễm tiếng ồn tác động rất xấu đến kinh tế, sức khỏe, tính mạng của con người. Theo báo Planète Santé của Thụy Sĩ, nạn ô nhiễm tiếng ồn làm 500 người thiệt mạng sớm mỗi năm. Các tính toán cho thấy mỗi cấp độ tiếng ồn tăng 10 dB thì nguy cơ nhồi máu cơ tim tăng 4%. Âm thanh ở mức 40-50 dB sẽ gây rối loạn giấc ngủ và từ đó sẽ khiến mất tập trung hoặc giảm khả năng ghi nhớ trong ngày hôm sau. Thiệt hại vật chất từ ô nhiễm tiếng ồn (tính theo chi phí về chăm sóc sức khỏe cho những người bị ảnh hưởng) được cơ quan chức năng Thụy Sĩ tính ra là hơn 2 tỉ USD mỗi năm[6].

iii) Khả năng tác động tích cực của các biện pháp hình sự lên hành vi nguy hiểm cho xã hội. Khi tiến hành tội phạm hoá hành vi gây tiếng ồn cần phải tính đến việc các chế tài mang tính pháp lý có thể đảm bảo giữ được trật tự xã hội theo mong muốn của nhà nước và hạn chế các hành vi lệch chuẩn, hành vi vi phạm. Nói cách khác, các quy định cấm và chế tài để điều chỉnh nhóm hành vi này nếu được đưa vào trong BLHS phải có khả năng “cô lập”, loại hoàn toàn hoặc tác động lên đa số hành vi gây ô nhiễm môi trường ra khỏi đời sống xã hội.

iv) Tính hiệu quả đem lại của việc hình sự hóa hành vi và vấn đề cân đối lợi ích. Cho dù hành vi có nguy hiểm thế nào thì việc tội phạm hóa cũng không mang lại giá trị tuyệt đối mà là sự cân nhắc và đánh đổi lợi ích. Nói cách khác, đó là sự hy sinh lợi ích cá nhân, nhóm cá nhân và thậm chí là lợi ích của cả xã hội để hướng đến đạt được một lợi ích quan trọng và rộng lớn hơn. Để thực hiện được điều này cần tiến hành dự đoán tính khả thi và hiệu quả của việc tội phạm hóa các hành vi gây ô nhiễm môi trường của một nhóm cá nhân, tổ chức để đánh đổi lại quyền lợi sống trong môi trường âm thanh trong lành của cả xã hội. Chỉ tiến hành tội phạm hóa đối với các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn ở mức độ nghiêm trọng khi hiệu quả của quá trình này lớn hơn so với thiệt hại của chủ thể thực hiện và thiệt hại về các điều kiện mà thường là các lợi ích kinh tế được sinh ra và đem lại do các hoạt động gây ô nhiễm tiếng ồn. Mặt khác, chỉ nên tội phạm hóa hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn khi việc đấu tranh và ngăn chặn hành vi này bằng các phương thức hành chính và dân sự không đạt được hiệu quả mong đợi.

v) Tính hợp lý và đầy đủ nhưng không trùng lặp của hành vi mới bị tội phạm hóa trong hệ thống pháp luật. Tiêu chí này thể hiện ở chỗ: sự phù hợp phạm vi quy định cấm mà cụ thể là sự phù hợp giữa giới hạn trách nhiệm có thể quyết định đối với hành vi và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Các quy định không được quá nhẹ vì sẽ không đủ tính răn đe nhưng cũng không được quá nghiêm khắc mang tính trừng phạt, triệt hạ dẫn các chủ thể thực hiện đến mức không còn cơ hội tự cải tạo. Mặt khác, việc tội phạm hóa tạo ra tội danh mới nhưng không được trùng lặp với các quy phạm pháp luật sẵn có trong BLHS.

vi) Tính kịp thời và cần thiết của việc tội phạm hóa hành vi. Tính kịp thời của hoạt động tội phạm hóa các hành vi gây ô nhiễm môi trường chỉ có thể bắt đầu tiến hành khi có cơ sở chứng minh hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn đạt đến mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội và tạo ra những nguy hiểm cho con người, xâm phạm đến các quan hệ pháp luật tối quan trọng.Việc tội phạm hóa các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn cũng không được chậm trễ nếu không sẽ không ngăn chặn kịp thời các hành vi nguy hiểm này và gây ra hậu quả đáng tiếc mà không thể khắc phục sau khi đã tội phạm hóa và xử lý hành vi vi phạm. Chính vì vậy, chỉ tiến hành tội phạm hóa khi hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn đủ mức nguy hiểm (về cường độ tác động nguy hiểm đến con người) tuy nhiên khi đã tiến hành thì cần phải tiến hành nhanh chóng và có sự giám sát và kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để bắt kịp và ngăn chặn chính xác sự phát triển của hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn.

3. Kiến nghị

Một là, cần tội phạm hóa hành vi gây tiếng ồn ở mức độ nhất định.Nghiên cứu cho thấy, hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn hoàn toàn thỏa mãn các tiêu chí để tội phạm hóa một hành vi nguy hiểm cho xã hội thành một hành vi phạm tội và quy định thành một tội danh mới. Việc quy định tội danh mới chính là kết quả của quá trình tội phạm hóa mang lại và là cơ sở để xử lý TNHS đối với hành vi phạm tội, đồng thời tạo nên tính răn đe và giáo dục xã hội về ý thức chấp hành pháp luật.

Hai là, quy định tội danh trong BLHS nhưng cần dẫn chiếu đến luật chuyên ngành như Luật Bảo vệ môi trường nhằm hướng dẫn, giải thích thích để quá trình áp dụng pháp luật đạt được hiệu quả. Chính sách PLHS của Việt Nam coi nguồn của PLHS chỉ có thể là BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS. Chính vì thế BLHS sẽ là nguồn duy nhất trong việc áp dụng các quy định về TPMT. Tuy nhiên, do tính bao quát và điều chỉnh nhiều lĩnh vực, bảo vệ nhiều quan hệ xã hội quan trọng nên nếu quy định theo hướng chi tiết về từng loại tội danh và cách xử lý chúng sẽ dẫn đến việc pháp điển hoá bộ luật trở nên đồ sộ và phức tạp. Thực tế, rất nhiều tội danh trong BLHS nhất là nhóm tội về môi trường được quy định theo hướng khái quán, sơ lược và việc dẫn chiếu đến các luật chuyên ngành đóng vai trò quan trọng cho việc giải thích và áp dụng các quy định của BLHS vào thực tiễn. Nhóm tác giả kiến nghị chỉ nên quy định khái quát về hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn và chế tài tương ứng còn đối với việc giải thích khái niệm ô nhiễm tiếng ồn và các hành vi được mô tả khách quan nên được dẫn chiếu đến luật chuyên ngành trong lĩnh vực này là luật BVMT[7] để có các quy định cụ thể và chi tiết hơn.

Ba, về chủ thể thực hiện tội phạm. Cần xem xét trách nhiệm đối với cả cá nhân và pháp nhân thương mại (PNTM) đối với loại tội phạm mới này. Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy, cường độ tiếng ồn gây nguy hiểm cho con người thường ở mức từ 80 dBA trở lên và đối với cường độ này hiện nay chủ yếu được tạo ra từ quá trình sản xuất của nhà máy, vận tải khối lượng lớn…. và các hoạt động thương mại dịch vụ. Đối với xu hướng phát triển kinh tế chuyên môn hóa hướng tới mô hình lớn và chuyên nghiệp thì các hoạt động này thường được thực hiện bởi các PNTM trong quá trình hoạt động và tìm kiếm lợi nhuận của mình. Dựa trên năng lực thực tế, việc tạo ra tiếng ồn của các PNTM thường lớn và thường xuyên hơn trong quá trình hoạt động của mình và đây mới chính là những nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn chủ yếu. Trong khi đó, ô nhiễm tiếng ồn, kể cả của cá nhân hay cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất - kinh doanh, cũng đều gây ra những hậu quả xấu. Vì vậy, cần xem xét TNHS đối với PNTM khi thực hiện hành vi này. Tránh trường hợp cùng thực hiện một loại hành vi được mô tả ở mặt khách quan nhưng chỉ tiến hành truy cứu TNHS đối với cá nhân tạo ra tiền lệ xấu việc sẵn sàng sử dụng các pháp nhân để thực hiện hành vi khi cân nhắc được lợi ích kinh tế bất hợp pháp thu lại được từ việc thực hiện hành vi lớn hơn, nhiều so với mức phạt hành chính hiện hành. Mặt khác, việc truy cứu TNHS đồng thời đối với cá nhân và PNTM khi phạm tội này còn thể hiện tính công bằng của PLHS. Tuy nhiên, để xử lý TNHS của PNTM thì bắt buộc phải chứng minh thỏa mãn đủ 04 điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 75 BLHS và quy định thêm phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại đối với loại tội phạm mới này theo quy định tại Điều 76 BLHS về Phạm vi chịu trách nhiệm của PNTM.

4. Những vấn đề cần đặt ra

Qua nghiên cứu về tình hình nghiên cứu nước ngoài và PLHS các nước trên thế giới, cho thấy nếu quy định TPMT ở ngay trong Luật BVMT hoặc các luật chuyên ngành là cần thiết và các quy định về tội phạm trong Luật BVMT và luật chuyên ngành khác sẽ được ưu tiên áp dụng. Khi đó, nếu xảy ra một vụ án hình sự liên quan đến TPMT, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tra cứu, dẫn chiếu đầu tiên đến các quy định về tội phạm và hình phạt liên quan đến lĩnh vực môi trường trong BLHS hiện hành. Tuy nhiên, ở Việt Nam chính sách hình sự nhất quán, chỉ có BLHS mới quy định trực tiếp về tội phạm và hình phạt, các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật không được quy định trực tiếp về tội phạm và hình phạt thì vấn đề ưu tiên hay không ưu tiên áp dụng giữa quy phạm pháp luật về môi trường và BLHS đối với các hành vi được coi là tội phạm trong BLHS sẽ không được đặt ra. Vấn đề quy định TPMT có được quy định trong pháp luật chuyên ngành sẽ được các nhà lập pháp nghiên cứu quy định trong tương lai.

BLHS năm 2015 đã có những thay đổi lớn quy định về các TPMT nhưng chưa thật sự thể hiện hết tính thống nhất giữa ngành luật BVMT với ngành luật hình sự[8]. Các hành vi bị Luật BVMT cấm chưa được tội phạm hóa bằng các quy định của PLHS. Do vậy, tác giả cho rằng việc hoàn thiện các quy định của BLHS về các TPMT cần được tiến hành theo hướng tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực này. Việc tội phạm hóa trong lĩnh vực BVMT có thể được tiến hành bằng hai cách sau: 1) tội phạm hóa một số hành vi mới, nguy hiểm lớn cho xã hội xâm phạm lĩnh vực môi trường, nảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội; 2) tội phạm hóa lại những hành vi đã được LHS hiện hành coi là TPMT, nhưng do sự thay đổi của tình hình mà hành vi đó có tính chất nguy hiểm lớn hơn cần quy định lại và tăng nặng TNHS đối với chúng. Việc tội phạm hóa trong lĩnh vực này cần theo hướng phân hóa cao hơn, tức là cần quy định nhiều tội phạm hơn theo sự xâm hại đến các yếu tố của môi trường. Chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng nghiên cứu và bổ sung một số tội phạm mới, cụ thể là:

Cần tội phạm hóa một số hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm quản lý môi trường đến các Báo cáo đánh giá tác động môi trường trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng quy định trong Luật BVMT năm 2020. Báo cáo đánh giá tác động môi trường là hoạt động phân tích, dự báo tác động tích cực hay tiêu cực của các dự án kinh tế đến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra những biện pháp BVMT, giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường khi các dự án đó được triển khai. Việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường nhằm mục đích để nắm bắt được tầm ảnh hưởng của dự án đến môi trường xung quanh so với mức tiêu chuẩn quy định, từ đó thẩm định xem có cấp quyết định phê duyệt dự án hay không. Trên thực tế cho thấy thông qua các vụ việc như Vedan, Formosa, chất lượng đánh giá tác động môi trường của các dự án còn kém, chỉ mang tính hình thức nhưng vẫn được thông qua, hệ quả đã gây thiệt hại rất lớn cho môi trường, xã hội. Chính vì vậy, cần hình sự hóa trách nhiệm thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường trong những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng như vậy để răn đe, xử lý.   

Điều 247. Tội gây tiếng ồn trong khu dân cư
“1. Người nào gây tiếng ồn trong khu dân cư vượt quá giới hạn 80 đến 100 decibel, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 100 triệu đến 500 triệu đồng.
2. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tiền từ 200 triệu đến 1 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.
..."

(Mức xử phạt hành chính cao nhất hiện nay là 160 triệu đồng và tiếng ồn đến 40 decibel, với pháp nhân thì gấp đôi theo của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP).


[1] Lynch et al (2017), Green Criminology, Amazon Digital Services LLC, USA, pp.44.

[2] TSKH.PGS. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Phần chung, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 64.

[3] GS.TS. Hồ Trọng Ngũ (2021) Một số vấn đề về hình sự hoá, phi hình sự hoá các  hành vi phạm pháp luật trên lĩnh vực kinh tế trong chính sách hình sự hiện nay (http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document library/get

file?uuid=bc9a9bb2-9106-4b83-a682-8d0f982df47f&groupId=13025)

[4] Tình trạng ô nhiễm tiếng ồn: https://namdinh.gov.vn/portal/Pages/2021-4-13/Am-anh-tinh-trang-o-nhiem-tieng-one7aqi5.aspx

[5] Đông Nghi – Vũ Phương (2017) báo động tình trạng gây ô nhiễm tiếng ồn ở Hà Nội, https://baovemoitruong

.org.vn/bao-dong-tinh-trang-o-nhiem-tieng-tai-ha-noi/

[6] Tú Anh - Tiến Long - Thảo Lê (2021), Xử lý tiếng ồn, đừng đổ lỗi thêm cho thiết bị đo, https://tuoitre.

vn/xu-ly-tieng-on-dung-do-loi-them-cho-thiet-bi-do-20210310081243673.htm

[7] Xem Ngô Ngọc Diễm (2020) Một số vấn đề về tội phạm về môi trường trong pháp luật hình sự, Tạp chí TAND, số 17, tr.26.

[8] Bộ Tư pháp (Trường Đại học Luật Hà Nội) (2016), Nghiên cứu tính thống nhất giữa BLHS trong việc quy định các tội phạm với các luật khác trong HTPL Việt Nam, tr. 264-265.

Bài viết liên quan

Tình hình tội phạm về môi trường và một số dự báo về xu hướng vận động

(LSNV) - Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm về môi trường (TPMT) sẽ ngày càng diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất, tài nguyên nước, môi trường biển... tiếp tục là vấn đề mang tính toàn cầu, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với an ninh phi truyền thống. Xu hướng toàn cầu hóa, tội phạm môi trường có yếu tố nước ngoài gia tăng, diễn biến phức tạp, tinh vi khó phát hiện... sẽ hình thành những vi phạm pháp luật mới, thậm chí những vi phạm có tính chất nguy hiểm biến đổi thành tội phạm về môi trường, mang tính quốc tế cần phải phòng ngừa.

Pháp luật môi trường đối với doanh nghiệp

(LSVN) - Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một trong những yêu cầu quan trọng và ưu tiên hàng đầu đối với các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, trong đó cộng đồng doanh nghiệp là nhân tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên. Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà còn giúp bản thân doanh nghiệp tự nâng cao khả năng cạnh tranh, thâm nhập thị trường quốc tế và đảm bảo phát triển bền vững.

Bạo lực gia đình – Những vấn đề pháp lý

Bạo lực gia đình nói chung luôn là vấn đề được quan tâm ở thời điểm hiện tại, đây là vấn đề hết sức phức tạp vì từ lâu vẫn được dư luận cho là vấn đề cá nhân, tế nhị, mặt khác nó cũng chứa đựng những vấn đề pháp lý về quyền công dân, quyền con người…cần phải giải quyết để đảm bảo trật tự xã hội nói chung và mỗi gia đình, cá nhân nói riêng. Thực tiễn cho thấy hành vi bạo lực gia đình vẫn diễn ra thường xuyên, có nhiều phụ nữ bị chính chồng mình đánh đập, hành hạ nhưng không dám lên tiếng vì sợ dư luận, sợ ảnh hưởng đến con cái…

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.