Mục lục

Mai Văn Duẩn

Văn phòng UBND tỉnh Bắc Ninh

Lê Minh Tùng

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Tính tất yếu khách quan

            Theo hiến pháp và pháp luật, khiếu nại hành chính là một quyền và là một phương thức quan trọng để công dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc giải quyết khiếu nại là trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, thể hiện tính dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

            Ngay từ khi mới ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặt biệt coi trọng việc giải quyết các khiếu kiện của nhân dân tại các địa phương. Từ việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt năm 1945 (sau lần lượt đổi thành Ban Thanh tra của Chính phủ (năm 1949), Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ (1956), Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ (1961), Thanh tra nhà nước và hiện nay là Thanh tra Chính phủ) đến việc đặt ra các quy định cho việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Một số văn bản về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân lần lượt được ban hành như: Thông tư số 436/TTg của Thủ tướng Chính phủ  ngày 13.5.1958 quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân; Thông tư số 60-UBTTr ngày 22.5.1971 Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xét và giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo của công dân (trong đó lần đầu tiên có sự phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo cũng như cách xử lý đối với từng loại đơn); Thông tư số 67-UBTTr/ XKT hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 68-UBTTr/XKT hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện ngày 29.3.1973, Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ; tiếp đến là Pháp lệnh Hội đồng Nhà nước quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27.11.1981; Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo năm 1991; rồi Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1996; Luật Sửa đổi, bổ sung của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, 2005 và hiện nay là Luật Khiếu nại 2011.

Các văn bản pháp luật nêu trên không chỉ cho thấy sự phát triển của một nền lập pháp mà quan trọng hơn là việc mở rộng và ghi nhận quyền khiếu nại của công dân; hình thành cơ chế và mô hình giải quyết khiếu nại hành chính. Trách nhiệm giải quyết khiếu nại của công dân của các cơ quan nhà nước cũng có sự thay đổi và quy định chặt chẽ, cụ thể hơn. Từ việc quy định giao cho Ban Thanh tra đặc biệt quyền nhận và xem xét những khiếu nại của nhân dân đến việc hình thành hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước cũng như quy định nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của các cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại; từ việc quy định Thanh tra là một cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 1991) đến việc quy định Thanh tra không còn là một cấp giải quyết khiếu nại mà trách nhiệm giải quyết khiếu nại thuộc về Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước (Cơ quan Thanh tra chỉ được giải quyết một số vụ việc khi được Thủ trưởng cơ quan cùng cấp uỷ quyền (Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998); chỉ là cơ quan tham mưu giúp cho Thủ trưởng cơ quan cùng cấp giải quyết khiếu nại (Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; sửa đổi, bổ sung năm 2005). Từ việc quy định trách nhiệm giải quyết khiếu nại chỉ là công việc của cơ quan hành chính nhà nước đến việc chuyển một số vụ việc sang cơ quan toà án (thời điểm Toà Hành chính được thành lập và đi vào hoạt động năm 1996 là 7 loại vụ việc; đến năm 1998, thời điểm ban hành Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là 10 loại vụ việc; tiếp đến là 22 loại vụ việc năm 2006, thời điểm Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được sửa đổi, bổ sung và đến nay là: quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống;  quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (điều 28 Luật Tố tụng hành chính năm 2010).

Những quy định của pháp luật khiếu nại và giải quyết khiếu nại ngày một tiến bộ và hoàn thiện; quyền khiếu nại của công dân ngày càng được mở rộng, trách nhiệm giải quyết khiếu nại được quy định cụ thể hơn; cơ chế giải quyết có sự thay đổi theo hướng chuyển dần sang con đường toà án. Song, xét một cách khách quan, toàn diện, do tính đặc thù nên quy định về việc giải quyết khiếu nại cũng như cơ chế giải quyết hiện nay còn bộc lộ những hạn chế nhất định, sự lựa chọn con đường giải quyết khiếu nại bằng toà án còn bị hạn chế. Hơn thế nữa, do yếu tố tâm lý của người dân cộng với các quy định của pháp luật về tổ chức toà án như hiện nay thì số vụ việc được xét xử tại Toà còn rất khiêm tốn, mà chủ yếu vẫn được xem xét, giải quyết tại cơ quan hành chính nhà nước. Tại cơ quan hành chính nhà nước, việc giải quyết khiếu nại còn rườm rà, bị động, thiếu minh bạch, cụ thể; quyền của người khiếu nại chưa được đảm bảo…Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại độc lập, khách quan và hiệu quả tại cơ quan hành chính nhà nước là một đòi hỏi khách quan.

2. Một số yêu cầu đặt ra khi xây dựng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta hiện nay

Cho đến nay, chúng ta chưa có văn bản pháp luật nào quy định riêng về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính. Việc giải quyết khiếu nại tại cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện theo hướng dẫn nghiệp vụ. Thực tiễn cơ chế giải quyết cũng như trình tự, thủ tục giải quyết một nội dung khiếu nại tại cơ quan hành chính nhà nước đã bộc lộ một số hạn chế. Vì thế, khi xây quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cần phải đặt ra và giải quyết tốt các yêu cầu sau:

- Việc giải quyết khiếu nại hành chính nên do một cơ quan thực hiện:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc giải quyết khiếu nại phải trải qua nhiều công đoạn, công việc. Mỗi công đoạn lại được thực hiện bởi cơ quan khác nhau. Và bản thân mỗi công đoạn, công việc trong quá trình giải quyết khiếu nại được thực hiện cũng khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi địa phương. Trong khi đó, pháp luật lại không quy định thời hạn để thực hiện mỗi công đoạn là bao lâu mà chỉ quy định thời hạn chung cho cả quá trình giải quyết, dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc thời gian giải quyết kéo dài hơn so với luật định.

Pháp luật ngoài cần có quy định cụ thể về thời hạn thực hiện cho từng công đoạn cũng nên quy định việc giải quyết khiếu nại do một cơ quan thực hiện. Vì việc giải quyết khiếu nại do một cơ quan thực hiện có những ưu điểm như: tạo sự thông suốt, khép kín các công việc, công đoạn của quy trình giải quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, từ đó cắt bớt được các khâu trung gian, rút ngắn thời gian trong toàn bộ quy trình giải quyết; Thống nhất cho công tác chỉ đạo từ trên xuống dưới, gắn và đề cao trách nhiệm của cá nhân phụ trách từng khâu, từng việc và cho cả quá trình; Khắc phục được tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, dây dưa, kéo dài trong quá trình giải quyết; Gắn kết, tạo sự gần gũi giữa người giải quyết khiếu nại và người khiếu nại; Xây dựng và tạo tính chuyên nghiệp cho chuyên viên làm công tác giải quyết khiếu nại cũng như tạo cho cơ quan giải quyết khiếu nại có một chức năng nhiệm vụ chuyên biệt.

- Đảm bảo quyền khiếu nại của công dân:

Quyền khiếu nại của công dân là quyền Hiến định, được pháp luật đảm bảo. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong tổng thể các quyền công dân, là phương thức mà công dân sử dụng để bảo vệ các quyền hợp pháp khác của mình khi bị xâm phạm. Hơn thế nữa, nó là công cụ để công dân tham gia vào quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức, viên chức nhà nước khi thực thi công vụ. Khi cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có hành vi vi phạm thì công dân có quyền kiến nghị xử lý để khôi phục lại theo trạng thái ban đầu. Vì thế, xây dựng và hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại phải đảm bảo tốt hơn quyền khiếu nại của công dân cũng như quyền kiểm tra, giám sát trong quá trình cơ quan nhà nước thực hiện việc giải quyết khiếu nại đó. Xây dựng và hoàn thiện quy định  pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính chính là hoàn thiện và xây dựng những “bậc thang” để tạo điều kiện thuận tiện cho công dân trong quá trình đề nghị các cơ quan nhà nước khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

-Bảo đảm hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại hành chính:

Để việc giải quyết khiếu nại hành chính có hiệu quả thì quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính phải đáp ứng được những đòi hỏi sau:

+Thứ nhất, giải quyết khiếu nại hành chính phải được tiến hành nhanh chóng. Thực tiễn cho thấy việc giải quyết khiếu nại của công dân thường bị kéo dài, thậm chí rất dài. Điều này không những ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước mà nó còn ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động quản lý hành chính, đặc biệt là quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Mặc dù việc khiếu nại của công dân không làm ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện quyết định hành chính bị khiếu nại, song xuất phải từ đặc thù của quan hệ hành chính thì việc giải quyết khiếu nại cần được tiến hành càng nhanh càng tốt.

+Thứ hai, giải quyết khiếu nại phải được tiến hành đúng với quy định của pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc giải quyết khiếu nại phải được tiến hành nhanh chóng không đồng nghĩa với việc làm ẩu, qua loa mà phải đảm bào tính tuần tự, tính đúng đắn với các quy định của pháp luật. Cơ quan nhà hước có thẩm quyền khi tiến hành giải quyết khiếu nại vừa phải đảm bảo đúng tiến độ thời gian, vừa phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, không thể tự tiện bỏ qua những thủ tục bắt buộc mà pháp luật quy định phải làm cũng như thêm những thủ tục không cần thiết khiến cho việc giải quyết thêm kéo dài, và phát sinh phức tạp.

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại cũng như người được giao nhiệm vụ tham mưu, tiến hành xác minh và kết luận nội dung khiếu nại (gọi tắt là người giải quyết) phải tôn trọng và đảm bảo các quyền của người khiếu nại như: quyền được đối chất; quyền được xem xét hồ sơ và những chứng cứ mà người giải quyết sử dụng; quyền được cử người đại diện, người bào chữa; quyền yêu cầu người giải quyết giải quyết đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn; quyền được yêu cầu người giải quyết chấm dứt hành vi vi phạm; quyền khiếu nại, tố cáo đối với những hành vi vi phạm của người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết (cố tình sử dụng không đúng chứng cứ, viện dẫn sai luật, giải quyết không đúng nội dung, đúng thể thức…); quyền yêu cầu Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp giải quyết hoặc đôn đốc giải quyết, xử lý vi phạm đối với Thủ trưởng cơ quan cấp dưới khi người này có những biểu hiện cố tình trì hoãn, kéo dài việc giải quyết hay những vi phạm pháp luật khác; quyền được yêu cầu người có hành hành chính hoặc kiến nghị cấp trên của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính tạm dừng thực hiện quyết định hành chính khi có chứng cứ rõ ràng chứng minh quyết định hành chính đó là sai và việc thực hiện quyết định hành chính đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục lại được…

-Đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của công dân.

Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta hiện nay chưa được cụ thể và công khai. Việc công dân nắm bắt và tiếp cận với việc giải quyết của cơ quan nhà nước là rất hạn chế. Chúng ta tiến hành đang xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi hoạt động, việc làm của công dân hay Nhà nước đều phải tuân theo quy định của pháp luật. Do vậy, không có lý gì lại không công khai, minh bạch các thủ tục giải quyết khiếu nại của công dân. Hơn thế nữa, khiếu nại không những là quyền của công dân, mà khiếu nại còn là quyền giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, giúp cơ quan nhà nước phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các vi phạm pháp luật, góp phần làm cho nhà nước trong sạch, vững mạnh. Công khai, minh bạch các thủ tục giải quyết khiếu nại của công dân thể hiện quyền tiếp cận, quyền được biết và quyền giám sát các công việc mà cơ quan nhà nước thực hiện trong quá trình giải quyết khiếu nại theo quy định. Khi phát hiện ra những việc mà cơ quan nhà nước thực hiện không đúng thì công dân có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu người đó phải chấm dứt hành vi sai phạm hoặc xử lý theo quy định của pháp luật. Điều này hoàn toàn là hợp pháp. Cơ quan, người được giao nhiệm vụ thực hiện các công việc khi tiến hành các thủ tục giải quyết khiếu nại phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi, quyết định của mình. Có như vậy thì mỗi cá nhân, cơ quan nhà nước mới tự đề cao trách nhiệm. Càng công khai, minh bạch các thủ tục giải quyết khiếu nại thì tính tự chịu trách nhiệm của cá nhân, cơ quan nhà nước càng cao, việc giải quyết khiếu nại càng khách quan, đúng pháp luật hơn.

-Đảm bảo tính cụ thể, phù hợp, thống nhất và thuận tiện cho người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại:

Khiếu nại là quyền của công dân và việc giải quyết khiếu nại là nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp và trong Luật Khiếu nại, tố cáo. Nhưng để thực thi được thống nhất, phù hợp với thực tiễn thì cần phải được cụ thể hoá bằng các văn bản luật, dưới luật, đối với từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực. Và giữa chúng phải có sự thống nhất và thuận tiện cho người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại.

+Đảm bảo tính cụ thể, chi tiết: Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu hành chính là một chuỗi các công việc, công đoạn phải làm nối tiếp và liên quan chặt chẽ với nhau. Tương ứng với các công đoạn là các cơ quan, bộ phận, cá nhân trong cơ quan nhà nước khác nhau đảm nhận. Tính cụ thể của quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cho phép mọi người biết quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại đó gồm những công đoạn nào, công việc gì, ai làm, trách nhiệm của người đó đến đâu?, thời gian thực hiện tối đa cho phép của từng công đoạn, công việc cũng như cho cả quy trình.

+Tính phù hợp: Ngoài việc đảm bảo tính chi tiết, quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại còn phải có sự phù hợp với từng cấp cơ quan nhà nước. Mỗi cấp cơ quan hành chính được tổ chức khác nhau, hơn thế nữa, tính chất phức tạp của quyết định hành của của Chủ tịch UBND cấp tỉnh cũng khác với cấp huyện và cấp xã. Do vậy, không thể lấy thủ tục giải quyết khiếu nại ở cấp tỉnh áp dụng cho cấp huyện, cấp xã và ngược lại. Ở đây, cần có sự phân biệt giữa các cấp. Giải quyết khiếu nại ở cấp tỉnh phải khác với cấp huyện và cấp xã, giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan cấp huyện phải khác với Giám đốc Sở, ngành. Trên cơ sở về việc tổ chức bộ máy của từng cấp chính quyền ở địa phương, cần có những quy định cụ thể riêng cho phù hợp với từng cấp.

+Tính thống nhất: Khi đã có những quy định cụ thể, phù hợp thì việc áp dụng quy định về trình tự, thủ tục phải thống nhất trong các cơ quan nhà nước. Rà soát lại các quy định pháp luật hiện hành cho thấy một số địa phương, ngành, lĩnh vực có quy trình giải quyết khiếu nại riêng của cho địa phương, ngành lĩnh, vực mình như giải quyết khiếu nại về đất đai, về giáo dục, về tài chính, về tư pháp, công an…Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi mỗi ngành, địa phương đều có tính đặc thù riêng. Việc các ngành, các cấp có quy định riêng đều nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra là giải quyết kịp thời những khiếu nại của công dân, trong điều kiện chúng ta chưa có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại chung, thống nhất.

Trước tình hình như vậy, vấn đề đặt ra là phải có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại chung thống nhất. Các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại riêng của từng ngành, từng địa phương chỉ mang tính chất hướng dẫn, cụ thể hoá trong ngành và địa phương mình. Những quy định trong việc hướng dẫn giải quyết khiếu nại của từng ngành, từng địa phương phải dựa trên cơ sở của quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại chung, không được trái với quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại chung đó.

+ Đảm bảo thuận tiện cho người khiếu nại: quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính không chỉ là cách thức để các cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại mà còn là con đường để công dân thực hiện quyền khiếu nại của mình, do vậy cần phải được diễn đạt một cách rõ ràng, phổ thông để mọi cơ quan cơ quan nhà nước, mọi công dân đều có thể hiểu và thực hiện giống nhau.

Nhà nước cần tạo mọi điều kiện thuận tiện để cho người dân tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu; phải có hình thức giáo dục, tuyên truyền để cho công dân biết và thực hiện theo; cần tạo mọi điều kiện để công dân thực hiện các quyền trong quá trình các cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại của họ. Giúp người dân giám sát được các tiến độ cũng như các hoạt động giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước, từ đó tránh tình trạng công dân khiếu kiện vượt cấp, trùng lắp, kéo dài.

-Đảm bảo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước:

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay không chỉ là "mục đích duy trì bản chất giai cấp công dân và tính nhân dân của nhà nước, phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm cho Nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý và điều hành” mà nó còn mang tính tất yếu lịch sử trong tiến trình xây dựng và phát triển Nhà nước Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò của quyền làm chủ của nhân dân đối với Nhà nước. Quyền làm chủ đó được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật. Pháp luật về khiếu nại là một bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật nói chung, “với tư cách là công cụ pháp lý để bảo vệ các giá trị pháp lý hướng về quyền con người, quyền công dân”. Xây dựng và hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại là một yếu tố đảm bảo cho các quy định về khiếu nại được thực hiện, tức là đảm bảo cho quyền khiếu nại của công dân được thực hiện trên thực tế.

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, quy định về thủ tục giải quyết khiếu nại được xây dựng theo hướng: Lấy quyền, lợi ích hợp pháp của công dân làm trọng tâm để từ đó có những quy định bảo vệ; cắt bỏ những khâu trung gian, tăng cường việc tiếp xúc trực tiếp giữa người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại một cách công khai, dân chủ; quy định rõ những công việc, công đoạn phải làm và thời gian phải hoàn thành các công việc, công đoạn đó; phân cấp rành mạch về quyền và trách nhiệm cửa từng bộ phận và giữa các bộ phận, cơ quan trong quá trình giải quyết; gắn trách nhiệm cụ thể đối với hành vi thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, thể thức và thời hạn; xử lý đối với cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc né tránh trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại của công dân.

-Đảm bảo tính độc lập, khách quan:

Tại cơ quan hành chính những khiếu nại của công dân cần phải được giải quyết không những nhanh chóng, mà còn đảm bảo khách quan cao. Muốn vậy, các cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại phải có tính độc lập. Đây là một trong những điểm yếu nhất trong việc giải quyết khiếu nại ở nước ta hiện nay. Việc đảm bảo tính độc lập trong việc giải quyết khiếu nại là một đòi hỏi trong Nhà nước pháp quyền, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Để đảm bảo tính độc lập trong việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước, chúng ta phải dần hoàn thiện những nội dung sau:

+Mở rộng quyền uỷ quyền của người khiếu nại. Người khiếu nại có thể uỷ quyền cho bất kỳ ai có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có hiểu biết pháp lý. Trong những vụ việc phức tạp, kéo dài, cơ quan nhà nước khi giải quyết khiếu nại có thể mời luật sư cùng tham gia để thống nhất và đi đến kết luận nội dung khiếu nại của công dân;

+Mở rộng quyền của Luật sư trong việc gia giải quyết khiếu nại với vai trò là người đại diện;

+Tăng cường việc tiếp xúc trực tiếp giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại thông qua hoạt động tiếp công dân, đối thoại. Đổi mới và có những quy định cụ thể mang tính bắt buộc trong việc tổ chức đối thoại; nâng cao ý nghĩa của kết quả đối thoại trong kết luận nội dung khiếu nại;

+Mở rộng hơn nữa các quyền của công dân trong quá trình giải quyết khiếu nại và đảm bảo để công dân thực hiện các quyền đó. Cụ thể như: quyền được nhận văn bản thụ lý giải quyết, quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại đúng trình tự, thủ tục, thể thức, thời hạn; quyền được đưa ra những chứng cứ để chứng minh; quyền phản bác những căn cứ mà người giải quyết khiếu nại áp dụng khi thấy những căn cứ đó là không đúng luật; quyền được giao tiếp đối thoại, yêu cầu người giải quyết phải trực tiếp đối thoại; quyền yêu cầu cơ quan nhà nước phải thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại đúng thời hạn; quyền được yêu cầu bồi thường do hậu quả của quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra; quyền tố cáo người tiến hành xác minh, thẩm tra cố tình sử dụng những chứng cứ giả hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ…

+Xây dựng mô hình giải quyết khiếu nại hành chính phù hợp, khoa học./.

3. Một số kiến nghị

Quy trình, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay được thực hiện theo hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan nhà nước, do vậy, nó ít được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và hiệu quả còn hạn chế vì tính bắt buộc của nó chưa được đảm bảo. Để quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu có tính thực thi cao cần:

Một là, phải có quy định rõ ràng, cụ thể về việc xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan hành chính có trách nhiệm giải quyết khiếu nại và có hướng dẫn để công dân thực hiện quyền kiến nghị xử lý đối với những sai phạm phát sinh từ cơ quan tiến hành giải quyết khiếu nại: như cố tình không thụ lý đơn khiếu nại, trì hoãn, kéo dài việc giải quyết khiếu nại; cản trở việc thực hiện quyền của khiếu nại, cố tình làm sai lệch hồ sơ, có hành vi không đúng với phẩm chất của cán bộ công chức…; quy định các hình thức xử lý và cơ quan, người có thẩm quyền xử lý sai phạm, trình tự, thủ tục xử lý sai phạm. Thanh tra Chính phủ và Thanh tra các cấp thường xuyên tổ chức các cuộc thanh tra trách nhiệm đối với người đứng đầu trong việc giải quyết khiếu nại để phát hiện và xử lý sai phạm; kịp thời chấn chỉnh và sửa chữa, góp phần cho quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại được đi vào thực tế và được các bên tôn trọng.

Hai là, phải có những quy định đảm bảo trật tự tại trụ sở tiếp công dân và nơi tổ chức đối thoại; xử lý vi phạm đối với những hành vi lăng mạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm cũng như sức khoẻ của cán bộ tiếp công dân, cán bộ trực tiếp giải quyết khiếu nại, hay làm mất trật tự tại nơi tiếp công dân.

Trong thời gian tới, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cần được quy định thành một văn bản pháp luật cụ thể như: Nghị định của Chính phủ hướng dẫn Luật Khiếu nại hoặc Luật của Quốc hội hoặc Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính của công dân: trong đó quy định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại; thời hạn giải quyết khiếu nại; trách nhiệm của người đứng đầu trong việc giải quyết khiếu nại; xử lý vi phạm đối với cá nhân, người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, người được giao nhiệm vụ trong quá trình tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư và tiến hành thẩm tra, xác minh; quy định về trình tự, thủ tục đối thoại; trình tự, thủ tục thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật…Có như vậy mới đảm bảo tốt được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người khiếu nại../

Bài viết liên quan

Tình hình tội phạm về môi trường và một số dự báo về xu hướng vận động

(LSNV) - Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm về môi trường (TPMT) sẽ ngày càng diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất, tài nguyên nước, môi trường biển... tiếp tục là vấn đề mang tính toàn cầu, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với an ninh phi truyền thống. Xu hướng toàn cầu hóa, tội phạm môi trường có yếu tố nước ngoài gia tăng, diễn biến phức tạp, tinh vi khó phát hiện... sẽ hình thành những vi phạm pháp luật mới, thậm chí những vi phạm có tính chất nguy hiểm biến đổi thành tội phạm về môi trường, mang tính quốc tế cần phải phòng ngừa.

Pháp luật môi trường đối với doanh nghiệp

(LSVN) - Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một trong những yêu cầu quan trọng và ưu tiên hàng đầu đối với các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, trong đó cộng đồng doanh nghiệp là nhân tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên. Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà còn giúp bản thân doanh nghiệp tự nâng cao khả năng cạnh tranh, thâm nhập thị trường quốc tế và đảm bảo phát triển bền vững.

Bạo lực gia đình – Những vấn đề pháp lý

Bạo lực gia đình nói chung luôn là vấn đề được quan tâm ở thời điểm hiện tại, đây là vấn đề hết sức phức tạp vì từ lâu vẫn được dư luận cho là vấn đề cá nhân, tế nhị, mặt khác nó cũng chứa đựng những vấn đề pháp lý về quyền công dân, quyền con người…cần phải giải quyết để đảm bảo trật tự xã hội nói chung và mỗi gia đình, cá nhân nói riêng. Thực tiễn cho thấy hành vi bạo lực gia đình vẫn diễn ra thường xuyên, có nhiều phụ nữ bị chính chồng mình đánh đập, hành hạ nhưng không dám lên tiếng vì sợ dư luận, sợ ảnh hưởng đến con cái…

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.