Mục lục

Hỏi: Vừa rồi, gia đình tôi bị một người lạ đột nhập vào nhà lấy trộm điện thoại, laptop và hơn 3 triệu đồng, khi đang chạy trốn thì bị bắt giữ. Gia đình tôi đã báo Công an tới lập biên bản, thu giữ toàn bộ tang vật và giải tên trộm về trụ sở để tiếp tục giải quyết. Khoảng 2 tuần sau, tôi lên trụ sở Công an huyện để xin lại đồ bị lấy trộm nhưng vẫn chưa được giải quyết. 
Tôi muốn hỏi thời gian tạm giữ tang vật vụ án là bao lâu? Khi lên nhận lại đồ bị mất trộm, gia đình tôi phải làm những thủ tục gì và có phải đóng khoản phí nào không?

Theo thông tin bạn cung cấp về hành vi của đối tượng, trị giá tài sản bị chiếm đoạt và Cơ quan Công an đã bắt giữ được đối tượng, thu giữ toàn bộ tang vật gồm điện thoại, laptop và hơn 3 triệu đồng.

Vụ việc này có dấu hiệu hình sự của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” thì điện thoại, laptop và số tiền 3 triệu đồng bị Cơ quan Công an thu giữ ở trên được xác định là vật chứng trong vụ án hình sự trộm cắp tài sản (vật là đối tượng của tội phạm).

Về việc xử lý vật chứng, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

Điều 106. Xử lý vật chứng
1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
2. Vật chứng được xử lý như sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà cóthì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.
3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:
a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định thời gian bao lâu phải trả lại vật chứng. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tóa án nhân dân sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo thời gian luật định và vật chứng có thể được trả cho người bị hại trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử.

Hiện tại, Công an huyện đang thụ lý, giải quyết. Nếu muốn nhận lại ngay tài sản bị trộm cắp trên, gia đình bạn có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện trình bày nguyện vọng và chứng minh là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Nếu xét thấy việc trả lại vật chứng (điện thoại, laptop, tiền) không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án thì sẽ được Cơ quan điều tra trả lại.

Khi nhận lại tài sản này, gia đình bạn là người bị hại nên không phải thanh toán khoản phí nào, nhưng phải hoàn thiện các thủ tục với Cơ quan điều tra liên quan đến việc bàn giao tài sản trộm cắp.

Bài viết liên quan

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.

Dùng vũ lực để đòi lại tiền đã cho vay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

A vay tiền của B số tiền 50tr với thời hạn 2 tháng. Sau 2 tháng B đòi thì A nói chưa có đủ nên không thể trả được, thời gian trôi đi B vẫn đòi nhưng A đưa ra nhiều lý do để không trả nợ (A không trốn tránh). Sau 8 tháng, B rủ C cùng mình đi tìm A để đòi nợ, trên đường đi B và C gặp A đang đi chơi. Thấy vậy C nhảy xuống túm cổ áo, đấm và giữ A để B lục soát nơi giấu tiền, trong cốp xe của A có 100tr nhưng B chỉ lấy 50tr rồi bỏ đi. Xác định TNHS của các đối tượng A, B, C.

Hành vi buôn lậu và những trách nhiệm pháp lý phải đối mặt

Thời gian gần đây, hoạt động buôn lậu đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Đặc biệt là ở các vùng biên giới, người phạm tội với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đã qua mắt lực lượng kiểm tra để thực hiện những phi vụ trót lọt. Tội buôn lậu được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước.

Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất

(LSVN) - Thời hạn sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên có liên quan đến quyền sử dụng đất. Hiện nay, pháp luật đất đai trên cơ sở đặc thù của từng loại đất, quỹ đất và đặc biệt là chính sách quản lý đất đai đã quy định thời hạn sử dụng đất đối với nhóm chủ thể thuộc các trường hợp sử dụng đất.