Mục lục

Diễn biến dịch bệnh ngày càng phức tạp, xuất hiện tình huống xấu và khó lường. Thế nhưng, nhiều nơi đã có tâm lý chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, thực hiện chưa nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định, đặc biệt là giám sát thực hiện quy định 5K, nhất là việc đeo khẩu trang nơi công cộng, tập trung đông người. Vậy, không đeo khẩu trang nơi công cộng bị xử phạt như thế nào?

Covid-19 là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao, thuộc nhóm A theo quy định của Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm 2007. Việc không đeo khẩu trang nơi công cộng trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp như hiện nay là rất nguy hiểm, có nguy cơ lây lan dịch bệnh ra cộng đồng.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế.

Ngoài ra, Nghị định 117/2020/NĐ-CP cũng tăng mức xử phạt đối với hành vi không thông báo Uỷ ban nhân dân và cơ quan y tế dự phòng trên địa bàn về các trường hợp mắc bệnh dịch theo quy định của pháp luật từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Mức phạt tiền nêu trên là mức phạt tiền đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Nghị định 117/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/11/2020, tuy nhiên, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 115 Nghị định 117/2020/NĐ-CP thì quy định xử phạt nêu trên có hiệu lực từ ngày ký ban hành (tức là ngày 28/9/2020). 

(Theo Luật sư Việt Nam).

Bài viết liên quan

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.

Dùng vũ lực để đòi lại tiền đã cho vay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

A vay tiền của B số tiền 50tr với thời hạn 2 tháng. Sau 2 tháng B đòi thì A nói chưa có đủ nên không thể trả được, thời gian trôi đi B vẫn đòi nhưng A đưa ra nhiều lý do để không trả nợ (A không trốn tránh). Sau 8 tháng, B rủ C cùng mình đi tìm A để đòi nợ, trên đường đi B và C gặp A đang đi chơi. Thấy vậy C nhảy xuống túm cổ áo, đấm và giữ A để B lục soát nơi giấu tiền, trong cốp xe của A có 100tr nhưng B chỉ lấy 50tr rồi bỏ đi. Xác định TNHS của các đối tượng A, B, C.

Hành vi buôn lậu và những trách nhiệm pháp lý phải đối mặt

Thời gian gần đây, hoạt động buôn lậu đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Đặc biệt là ở các vùng biên giới, người phạm tội với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đã qua mắt lực lượng kiểm tra để thực hiện những phi vụ trót lọt. Tội buôn lậu được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước.

Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất

(LSVN) - Thời hạn sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên có liên quan đến quyền sử dụng đất. Hiện nay, pháp luật đất đai trên cơ sở đặc thù của từng loại đất, quỹ đất và đặc biệt là chính sách quản lý đất đai đã quy định thời hạn sử dụng đất đối với nhóm chủ thể thuộc các trường hợp sử dụng đất.