Mục lục

Hỏi

Hiện nay, tệ nạn ma túy đang ngày càng phức tạp, gây ra những hệ lụy khôn lường cho xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Theo quy định hiện hành thì người nghiện ma túy có bị coi là tội phạm không? Nếu một người nghiện ma túy đi mua ma túy về sử dụng mà bị bắt thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Nội dung tư vấn

Nghiện ma túy không phải là tội phạm

Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 không quy định bất cứ tội danh nào đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, “người nghiện ma tuý” không phải là người phạm tội.

Tuy nhiên, nếu “người nghiện ma tuý” sử dụng trái phép chất ma túy mà đồng thời có các hành vi như tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy,... thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các hành vi đó. Cụ thể:

1. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy

Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mức phạt thấp nhất là 01 năm tù, cao nhất là tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Cụ thể:

i) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

ii) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam;

iii) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam;

iv) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam;

v) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam;

vi) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam;

vii) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam;

viii) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít;

ix) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại các mục trên.

2. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy

Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự, người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma túy với mức phạt thấp nhất là 02 năm tù, cao nhất là tử hình. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Cụ thể:

i) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

ii) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam;

iii) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam;

iv) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam;

v) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam;

vi) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam;

vii) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam;

viii) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít;

ix) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại các mục trên.

3. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy

Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự, người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với mức phạt thấp nhất là 02 năm tù, cao nhất là tử hình. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự, người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt thấp nhất là 02 năm tù, cao nhất là tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ánh Tuyết - Công ty luật ThinkSmart

Nguồn tham khảo: Cổng thông tin điện tử Bộ Công an