Tình huống: Chào anh/chị luật sư, em là sinh viên năm 2 đang theo học đại học tại Hà Nội. Do hoàn cảnh khó khăn nên trong quá trình học tập em thường mượn sách của thư viện để học. Đợt này em đang tham gia nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên nên đã mượn một quyển giáo trình của bạn cùng lớp để photo phục vụ mục đích học tập và nghiên cứu đề tài. Một số bạn bè khuyên em không nên dùng bản photo vì như vậy là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Hiện nay em đang rất lo lắng, kính mong anh/chị luật sư Công ty luật ThinkSmart tư vấn giúp em về vấn đề này. Em xin chân thành cảm ơn.

Lời đầu tiên cho phép Công ty luật ThinkSmart cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Thắc mắc của bạn được luật sư chuyên về lĩnh vực Luật Sở hữu trí tuệ giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);
  • Nghị định số 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan;
  • Nghị định 105/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
  • Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.

Nội dung tư vấn

Pháp luật quy định như thế nào về hành vi tạo bản sao từ bản chính của tác phẩm?

Về cơ bản, luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm trong suốt thời gian pháp luật quy định. Theo đó, việc sao chép các tác phẩm trong thời gian được bảo hộ mà chưa được tác giả cho phép sẽ bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, đáp ứng quyền được tiếp cận thông tin, mở rộng hiểu biết của xã hội, pháp luật vẫn cho phép một số ngoại lệ. Theo đó, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009-2019) quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao tại Điều 25 bao gồm:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
  • Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
  • Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
  • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
  • Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Tiếp đó, tại khoản 5, Điều 3 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định: “Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.” Do đó việc bạn photo, chụp ảnh, scan giáo trình đều được coi là đang thực hiện một bản sao.

Hành vi không bị coi là vi phạm pháp luật

Đối chiếu trường hợp của bạn với quy định nêu trên có thể thấy, việc bạn photo giáo trình phục vụ mục đích học tập và nghiên cứu sẽ không bị coi là vi phạm quyền tác giả. Nói cách khác đây là hoạt động mà pháp luật cho phép. Tuy nhiên cần lưu ý, việc sử dụng của bạn không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Đồng thời, bạn phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm nếu sử dụng chúng trong công trình nghiên cứu của mình.

Các trường hợp vi phạm và chế tài

Trong trường hợp bạn thực hiện việc sao chép ra nhiều bản nhưng không thuộc các trường hợp nêu trên thì tùy tính chất mức độ có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự:

Đối với chế tài hành chính: được quy định tại Điều 18, Nghị định 131/2013/NĐ-CP, theo đó chủ thể có thể bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Kèm theo là các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm

Đối với chế tài hình sự: Trong trường hợp bạn thực hiện việc sao chép giáo trình với số lượng lớn, nhằm mục đích thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) với khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của Công ty luật ThinkSmart đối với vấn đề pháp lý bạn đưa ra. Mọi thắc mắc xin gửi về địa chỉ email: [email protected] hoặc tổng đài 1900636391.

Bài viết liên quan

Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu logo và đăng ký bảo hộ quyền tác giả

Một logo không những có thể đăng ký bảo hộ là một nhãn hiệu mà còn có thể đăng ký bảo hộ quyền tác giả. Nhiều chủ thể kinh doanh không biết mình nên đăng ký bảo hộ quyền tác giả cho logo hay nhãn hiệu, hoặc nhầm lẫn giữa 2 việc đăng ký này. Vậy lúc nào thì cần đăng ký bảo hộ bản quyền, khi nào đăng ký nhãn hiệu?

Nên bảo hộ nhãn hiệu hình hay nhãn hiệu chữ?

Một nhãn hiệu có thể được đăng ký bảo hộ ở dạng chữ cái và dạng hình hoặc dạng hỗn hợp – nghĩa là kết hợp cả yếu tố chữ và hình. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là: Nên đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chữ hay nhãn hiệu hình?

Có cần thiết phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu?

Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định rõ về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu – đối tượng gắn liền với các hoạt động kinh doanh. Nếu như sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp là những đối tượng có khả năng được áp dụng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ cho đời sống con người thì nhãn hiệu được xem như chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng. Câu hỏi đặt ra là: Vậy việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có cần thiết hay không?

Nên bảo hộ nhãn hiệu đen trắng hay nhãn hiệu màu?

Phạm vi bảo hộ của một nhãn hiệu đen - trắng hoặc một nhãn hiệu trong dạng màu sắc đạt đến mức độ nào, nhãn hiệu nào được bảo hộ mạnh hơn?