Mục lục

Pháp luật Việt Nam quy định doanh nghiệp, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm với nhân viên, người lao động khi xảy ra tai nạn lao động. Vậy doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người lao động bị tai nạn trong giờ nghỉ trưa?

Tai nạn trong giờ nghỉ trưa có phải là tai nạn lao động?

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (theo khoản 8 Điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015).

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 45 Luật này quy định những trường hợp người lao động bị tai nạn được hưởng chế độ tai nạn lao động như sau:

1. Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

2. Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

3. Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Như vậy, khi người lao động bị tai nạn vào giờ nghỉ trưa tại nơi làm việc thì được coi là tai nạn lao động. Trường hợp tai nạn xảy ra vào giờ nghỉ trưa nhưng không phải tại nơi làm việc thì chỉ được coi là tai nạn lao động khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động. Ngoài ra, trường hợp người lao động bị tai nạn trong khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc ngược lại cũng có thể xem là tai nạn lao động nếu trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Trách nhiệm của doanh nghiệp khi người lao động bị tai nạn lao động?

Khi người lao động bị tai nạn lao động, người sử dụng lao động có các trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động như sau:

1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động;

2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động như sau:

a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;

c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;

3. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;

4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động;

5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường nêu trên với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;

6. Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;

7. Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;

8. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;

9. Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động.

Ghi chú: Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.

(Theo Điều 38 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015).

Ngoài ra người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp: đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

(Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2019).

Trên đây là bài viết của Trung tâm tư vấn luật trực tuyến về trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp đối với người lao động bị tai nạn trong giờ nghỉ trưa. Để được cung cấp ý kiến pháp lý về các vấn đề cụ thể Quý khách đang gặp phải, mời Quý khách gọi đến Tổng đài 1900 636391 (nghe và làm theo hướng dẫn) để kết nối với tư vấn viên thuộc Bộ phận pháp luật về Dân sự.

Trân trọng./.

Bài viết liên quan

Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đại dịch Covid-19, sự hỗ trợ của Nhà nước và cơ chế thực thi

Dịch Covid-19 đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, khiến cho tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (DN) gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ. Phản ứng chính sách của Chính phủ là khá hợp lý, chủ trương chính sách là đúng đắn nhưng thiết kế chính sách có vấn đề, thực thi chính sách chưa thực sự suôn sẻ. Bài viết tập trung vào những phân tích cần thu hẹp khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn trong hỗ trợ DN vừa và nhỏ để vượt qua đại dịch và những vấn đề cần đặt ra đối với chính sách của Nhà nước.

Luật sư tư vấn Điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự (thuộc lĩnh vực quốc phòng)

Kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự (thuộc lĩnh vực quốc phòng) là ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực An ninh quốc phòng.

Luật sư tư vấn Điều kiện kinh doanh súng bắn sơn

Phòng DVPL Kinh doanh - Thương mại, Công ty luật ThinkSmart tư vấn Quý khách về điều kiện kinh doanh súng bắn sơn.

Luật sư tư vấn Điều kiện kinh doanh công cụ hỗ trợ (bao gồm cả sửa chữa)

Kinh doanh công cụ hỗ trợ (bao gồm cả sửa chữa) là ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực An ninh quốc phòng.