Luật sư Việt Nam » Nghiên cứu - Trao đổi

(LSVN) - Quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt[1], tạm giữ, tạm giam tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố xét xử đã được Hiến định ở khoản 4 Ðiều 31 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra, cán bộ quản lí cơ sở giam giữ vẫn nhận thức và yêu cầu Luật sư nếu gặp, tiếp xúc, làm việc, tham dự các buổi hỏi cung với người bị tạm giữ, tạm giam phải được sự chấp thuận của cơ quan điều tra hoặc theo kế hoạch hỏi cung của điều tra viên[2], điều này nằm ngoài quy định của pháp luật. Bài viết tập trung phân tích quy định của pháp luật hiện hành đối với quyền nêu trên của người bị giữ, người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và một số vấn đề cần đặt ra.

Khái niệm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa 

Quyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Theo đó quyền phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. 

Cho nên quyền là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của cá nhân, quyền là một phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật và trong đời sống xã hội. Theo sự phát triển của xã hội, phạm vi các quyền của cá nhân ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hóa. Tôn trọng các quyền của cá nhân và đảm bảo quyền của cá nhân là nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp và là nội dung quan trọng của quản lí nhà nước, quản lí xã hội trong giai đoạn hiện nay. Như vậy có thể hiểu “quyền” là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.

Khi nghiên cứu về quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội phải được đặt trong mối quan hệ pháp luật đối với các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự (đại diện cho Nhà nước) và các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác. Trong đó, với chức năng quản lí xã hội của mình, Nhà nước có quyền giữ, bắt, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án người nào đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm, ngược lại người đó có nhiều quyền đảm bảo thực hiện bào chữa cho hành vi bị buộc tội trong đó quyền được tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình là một trong những quyền điển hình nhất. Đặc biệt, trong mối quan hệ với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội thì việc được tiếp xúc với người bào chữa là cơ hội tốt nhất để nhóm chủ thể này tiếp cận được pháp lý có lợi cho mình và được tư vấn các vấn đề có liên quan đến quy trình tố tụng, các quyền, nghĩa vụ mà họ phải thực hiện đặc biệt họ sẽ được cung cấp thông tin, chứng cứ cần thiết cho người bào chữa để đảm bảo có lợi nhất khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử họ.

Như vậy có thể hiểu quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội là quyền được gặp gỡ, trao đổi những vấn đề liên quan đến vụ án của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội với người bào chữa trên cơ sở được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận trong một giai đoạn nhất định của chuỗi quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội 

Thực tiễn đã chỉ ra, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội khi tiếp xúc với cơ quan tiến hành tố tụng hình sự họ có nguy cơ phải đối diện với loại chế tài nghiêm khắc nhất của pháp luật nên họ thường rơi vào tình trạng hoang mang, lo sợ. Do đó, việc người bào chữa đồng hành cùng nhóm người này trong quá trình tố tụng không chỉ giúp họ ổn định tâm lí mà cao hơn là đem đến “lợi ích pháp lí” khi người bào chữa có khả năng đưa ra các chứng cứ và cơ sở pháp lí có lợi cho. Với trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng hành nghề, sự có mặt của người bào chữa còn đem đến sự chuẩn xác trong áp dụng pháp luật, hạn chế được bức cung, nhục hình và oan, sai. Vì vậy, khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có nhiều quy định mới, tinh thần pháp luật mới về đảm bảo quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra. Cụ thể:

Thứ nhất, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Một người tham gia tố tụng với tư cách là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là khi cơ quan có thẩm quyền điều tra thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với họ và khi đó ngay lập tức các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo Điều 58 BLTTHS năm 2015 sẽ được áp dụng. Trong đó, “quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” cũng sẽ được sử dụng nhưng vì họ chưa phải là người bị buộc tội theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 LTTHS năm 2015 nên quyền được chỉ định người bào chữa chưa đặt ra mà họ chỉ có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tuy nhiên, các quy định về mời người bào chữa trong BLTTHS chỉ đề cập đến trường hợp của người bị buộc tội, bị can, bị cáo mà không đề cấp đến thủ tục mời người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, vấn đề đó đã được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã quy định (gọi tắt là Thông tư số 46/2019/TT-BCA). Theo đó:

i) Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi lập xong biên bản giao nhận Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

ii) Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nhờ người bào chữa thì phải có đơn yêu cầu người bào chữa. Có hai trường hợp xảy ra: một là, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nêu đích danh người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa đó, người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; hai là, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không nêu đích danh người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. 

Về hình thức chuyển đơn: Việc chuyển đơn được thực hiện qua đường bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp tại trụ sở cơ quan này và có ký nhận tại sổ giao nhận công văn, tài liệu. 

Vì tư cách tố tụng của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tồn tại trong một thời gian rất ngắn, thậm chí có thể sẽ chuyển sang tư cách người bị tạm giữ ngay cả khi đơn mời người bào chữa chưa được gửi đến nơi nhận nên Thông tư 46 nêu trên đã quy định trường hợp “trong quá trình thực hiện việc chuyển đơn, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa tiếp tục được thực hiện, không phải làm các thủ tục đăng ký đối với người bị tạm giữ”[3].

Bên cạnh đó, Thông tư 46/2019/TT-BCA cũng quy định trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải thông báo cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can biết quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát[4].

Thứ hai, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội

Người bị buộc tội tham gia tố tụng khi có các quyết định pháp lý của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (lệnh bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử). Do đó, để đảm bảo quyền được tranh tụng, chứng minh là mình vô tội pháp luật trao cho người bị buộc tội quyền được tự bào chữa, mời người bào chữa hoặc chỉ định bào chữa. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của quyền này chính là quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Do đó, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều điểm mới, tiến bộ so với BLTTHS năm 2003 trong việc quy định quyền của người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa như sau:

- Người bị buộc tội được tiếp xúc với người bào chữa sớm hơn so với quy định trước đây

Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ tức là phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và điều này có thể dẫn đến người bị buộc tội không có người bào chữa đồng hành trong lần tiếp xúc đầu tiên với cơ quan có thẩm quyền điều tra. Tuy nhiên, Điều 74 BLTTHS năm 2015 đã khắc phục vấn đề này khi quy định: “Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ”. Như vậy, nếu trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì người bào chữa của những người này được tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Có thể thấy, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng hiện nay sớm hơn thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng của BLTTHS năm 2003. quy định mới này đã cụ thể hóa quy định của Điều 31 Hiến pháp năm 2013 về việc “người bị bắt có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”.

- Mở rộng hơn các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa 

BLTTHS năm 2003 chỉ quy định trường hợp bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự và trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (Điều 57 BLTTHS năm 2003), Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa là: “Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình”. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa với trường hợp bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân đã làm tăng cơ hội người bị buộc tội đương nhiên được người bào chữa bảo vệ, qua đó làm tăng các trường hợp được tiếp xúc với người bào chữa.

- Thủ tục tiếp xúc người bị buộc tội tại giai đoạn điều tra của người bào chữa được nhanh, gọn hơn

Để được tham gia bào chữa, thì thủ tục đăng ký bào chữa là bắt buộc và giấy chứng nhận người bào chữa là cơ sở pháp lí để bắt đầu thời điểm người bào chữa được tham gia tố tụng vụ án, được tiếp xúc với người bị buộc tội trừ trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ chối hoặc yêu cầu thay đổi Luật sư hoặc Luật sư không được tham gia tố tụng ở giai đoạn này theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thủ tục này chính là rào cản vô hình làm chậm lại quá trình được tham gia tố tụng của người bào chữa đồng thời cũng làm chậm lại thời gian được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Khắc phục hạn chế này của BLTTHS năm 2003, Điều 78 BLTTHS năm 2015 quy định rút ngắn thời hạn đăng ký bào chữa chỉ trong 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận đủ giấy tờ thay bằng 03 ngày như BLTTHS năm 2003; đồng thời “Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng...” (Điều 78 BLTTHS năm 2015) đã thay thế cho việc cùng một người bào chữa nhưng để tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì phải được các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải cấp 03 lần giấy chứng nhận người bào chữa cho họ thì đến nay chỉ cần cấp 01 lần cho toàn bộ quá trình tố tụng. Như vậy, quy trình tham gia tố tụng của người bào chữa được quy định nhanh gọn hơn rất nhiều, tạo điều kiện tối đa nhất cho người bị buộc tội được nhanh chóng tiếp xúc với người bào chữa.

- Người bào chữa được chủ động hơn trong tiếp xúc với người bị giữ, người bị buộc tội bị tạm giữ, tạm giam

Điều 79 BLTTHS năm 2015 quy định: “1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lí cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này”. Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 cũng quy định: "Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa". Như vậy, theo quy định, người bào chữa có thể gặp thân chủ của mình theo sự sắp xếp thời gian, địa điểm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc các cơ quan điều giao tiến hành một số hoạt động điều tra.

Tuy nhiên, trên tinh thần xây dựng mô hình tố tụng tăng cường tranh tụng, tạo điều kiện cho người bào chữa trong hoạt động thu thập chứng cứ nên BLTTHS năm 2015 mở rộng trường hợp để người bào chữa chủ động trong việc tiếp xúc với người bị buộc tội. Theo đó, Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã quy định: một là, người bào chữa được quyền đề nghị gặp người người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam; hai là, người bào chữa có thể thông báo trước việc gặp những người trên cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra đang thụ lí vụ án. Trong cả hai trường hợp nêu trên, cơ quan đang thụ lí vụ án phải bố trí để người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt tại trụ sở của mình, phổ biến cho người bào chữa biết quy định của trụ sở Cơ quan điều tra và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh quy định của BLTTHS năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành và nội quy cơ sở giam giữ[5]

Như vậy, với hai trường hợp nêu trên người bào chữa có thể tiếp xúc với người bị buộc tội với sự có mặt hoặc không có mặt của điều tra viên, cán bộ điều tra trong giai đoạn điều tra, điều đó cho thấy BLTTHS năm 2015 có một bước tiến mới trong ghi nhận tầm quan trọng của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự.

Đặc biệt, mới đây Bộ Công an đã ban hành Thông tư 46/2019/TT-BCA với các quy định nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội cũng như giúp các Luật sư có điều kiện tốt hơn để bảo vệ cho thân chủ của mình. Cụ thể, Khoản 1 Điều 12 Thông tư 46/2019/TT-BCA quy định, khi người bào chữa đề nghị gặp thân chủ và đã xuất trình văn bản thông báo người bào chữa và Thẻ Luật sư, CMND hoặc thẻ CCCD thì cơ quan đang thụ lý vụ án phải bố trí để người bào chữa gặp thân chủ và phổ biến cho người bào chữa biết quy định của trụ sở Cơ quan điều tra và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh.

Hơn nữa, khoản 3 Điều 12 Thông tư 46 quy định Cơ quan điều tra, Cơ sở giam giữ không được hạn chế số lần và thời gian trên một lần gặp của người bào chữa với người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.

Cơ quan có thẩm quyền điều tra bắt buộc phải thông báo cho người bào chữa có mặt khi tiến hành một số hoạt động điều tra 

Để đảm bảo tính khách quan của một số hoạt động điều tra, khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp cơ quan có thẩm quyền điều tra bắt buộc phải thông báo cho người bào chữa có mặt khi tiến hành một số hoạt động điều tra đồng nghĩa với việc khi tiến hành các hoạt động điều tra này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải thông báo cho người bào chữa biết thời gian, địa điểm, nội dung hoạt động điều tra. Theo đó, người bào chữa bắt buộc phải được thông báo có mặt để đồng hành với người bị buộc tội trong các trường hợp: một là, hoạt động lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can. Người bào chữa được nghe, chứng kiến hoạt động lấy lời khai, đảm bảo việc lấy lời khai, hỏi cung được diễn ra đúng trình tự, thủ tục, đúng quy định pháp luật. Đồng thời nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì trong quá trình buổi làm việc đó người bào chữa được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đồng thời sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can mà không cần sự đồng ý của điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên (điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015); hai là, hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS. Trong giai đoạn điều tra, trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất; hoặc khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng, nhận biết giọng nói theo quy định tại các Điều 189, 190, 191 BLTTHS năm 2015. Khi tiến hành hoạt động này, bên cạnh việc cơ quan điều tra phải báo cho Kiểm sát viên thì phải báo cho người bào chữa tham gia nếu có thân chủ của họ thực hiện việc đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói để đảm bảo người bị buộc tội được bảo đảm quyền pháp lí tốt nhất.  

Như vậy, theo các quy định trên, Luật sư sẽ không còn bị giới hạn về số lần và thời gian gặp thân chủ của mình và hoàn toàn có quyền chủ động yêu cầu cuộc gặp với thân chủ của mình không còn bị phụ thuộc vào kế hoạch của cơ quan tiến hành tố tụng như trước đây.

Vấn đề cần đặt ra và kiến nghị

Thứ nhất, quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội vẫn còn hạn chế

Như trên đã đề cập, có hai trình tự tiếp xúc của người bào chữa với thân chủ: một là, cuộc tiếp xúc riêng, chủ động của người bào chữa với người bị tạm giữ, tạm giam. Theo đó cơ sở giam giữ phải giải quyết yêu cầu gặp mặt của người bào chữa, trong trường hợp cần thiết thì báo với cơ quan thụ lí vụ án để cử người tham gia giám sát, việc cơ quan điều tra không đồng ý, hoặc điều tra viên bận không tham dự, để từ chối việc Luật sư yêu cầu gặp mặt người bị tạm giữ, tạm giam không được pháp luật quy định, (trừ trường hợp đặc biệt những vụ án liên quan đến an ninh quốc gia) người bào chữa vẫn được quyền gặp thân chủ; hai là, người bào chữa tham dự làm việc, hỏi cung theo kế hoạch của cơ quan điều tra, điều tra viên; chỉ được đặt câu hỏi khi được điều tra viên đồng ý, nếu được phép đặt câu hỏi và trả lời thì nội dung phải ghi rõ trong biên bản, Luật sư đọc lại, xác nhận và ký tên trên biên bản. 

Tuy nhiên, ngay cả khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực một thời gian vẫn tồn tại thực trạng “Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tổng hợp, thống kê và báo cáo lãnh đạo Bộ Công an về hàng trăm đơn thư khiếu nại trong nhiều năm qua của Luật sư do phải đăng ký, chờ đợi hàng tháng vẫn không được gặp, làm việc với bị can trong giai đoạn điều tra. Ðó là chưa kể, trong các buổi làm việc, hỏi cung, thường các Luật sư không được đặt câu hỏi, thậm chí nếu có chỉ được hỏi thăm về sức khỏe, thông tin về tình trạng gia đình”[6] … Do đó, để áp dụng thống nhất Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 46/TT-BCA ngày 10/10/2019 (nêu trên) nhằm hướng dẫn, quán triệt để cơ quan điều tra các cấp, các điều tra viên, cán bộ điều tra, cán bộ có thẩm quyền của cơ sở giam giữ nhận thức đúng quy định của pháp luật và bảo đảm tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa nói chung và quyền chủ động tiếp xúc riêng của Luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, không bị giới hạn thời gian gặp, làm việc. Quy định này hi vọng sẽ là “chỉ dẫn pháp lý” nhằm hiện thực hóa tinh thần của BLTTHS năm 2015, chấm dứt tình trạng việc gặp, tiếp xúc, làm việc, tham dự các buổi lấy lời khai, hỏi cung của Luật sư - người bào chữa với người bị tạm giữ, tạm giam phải được sự chấp thuận của Cơ quan điều tra hoặc theo kế hoạch hỏi cung của điều tra viên. 

Thứ hai, vấn đề bảo đảm quyền được tiếp xúc của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp khó khả thi

Theo quy định của pháp luật, mặc dù người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chỉ tồn tại trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm người đó bị giữ khẩn cấp hoặc cơ quan có thẩm quyền nhận người bị giữ khẩn cấp (khoản 4, khoản 6 Điều 110 BLTTHS) tuy nhiên theo quy định, trong thời hạn 12 giờ từ thời điểm nêu trên, cơ quan có thẩm quyền điều tra phải “lấy lời khai ngay” của họ. Về thủ tục đăng ký bào chữa đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chưa được quy định trong BLTTHS tuy nhiên được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 46/2019/TT-BCA. Theo đó, thủ tục mời ngưởi bào chữa của người tham gia tố tụng này phải có đơn yêu cầu người bào chữa và trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Việc chuyển đơn được thực hiện qua đường bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp tại trụ sở cơ quan này và có ký nhận tại sổ giao nhận công văn, tài liệu. Như vậy, chỉ tính riêng thời gian chuyển đơn, nhận được đơn yêu cầu người bào chữa và làm thủ tục đăng ký bào chữa thì thời hạn 24 giờ là khó khả thi. Chưa kể đến trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Như vậy, việc tiếp xúc lần đầu với các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự của người bị giữ có trong trường hợp khẩn cấp có mặt của người bào chữa là khó được đảm bảo.

Do đó, để đảm bảo thông tin mời người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được nhanh chóng, cần mở rộng phương thức thông báo của cơ quan tiếp nhận đơn mời người bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo cách thức sử dụng các mạng điện tử viễn thông như điện thoại, thư điện tử… Cách thức này cũng nên được mở rộng đối với trường hợp thông báo mời người bào chữa của người bị buộc tội.

Tóm lại, việc bảo đảm quyền được tiếp xúc với người bào chữa của người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội là trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan lập pháp nhằm nâng cao nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm các quyền con người của nhóm người đang trong tình trạng pháp lý đặc biệt.

[1] Xem điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 đã đưa ra giải thích (khái niệm) về người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
[2] Luật sư Phan Trung Hoài – Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, https://coquandieutravkstc.gov.vn/quyen-gap-lam-viec-cua-luat-su-voi-nguoi-bi-tam-giu-tam-giam-trong-giai-doan-dieu-tra/
[3] Xem khoản 2 Điều 3 Thông tư 46/2019/TT-BCA, ngày 10/10/2019
[4] Xem khoản 2 Điều 3 Thông tư 46/2019/TT-BCA, ngày 10/10/2019
[5] Điều 12 Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các qui định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.
[6] Luật sư Phan Trung Hoài - Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, https://coquandieutravkstc.gov.vn/quyen-gap-lam-viec-cua-luat-su-voi-nguoi-bi-tam-giu-tam-giam-trong-giai-doan-dieu-tra/

Luật sư NGÔ NGỌC DIỄM

Tiến sĩ VŨ THỊ PHƯỢNG

Công ty Luật ThinkSmart

Bài viết liên quan

Tình hình tội phạm về môi trường và một số dự báo về xu hướng vận động

(LSNV) - Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm về môi trường (TPMT) sẽ ngày càng diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất, tài nguyên nước, môi trường biển... tiếp tục là vấn đề mang tính toàn cầu, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với an ninh phi truyền thống. Xu hướng toàn cầu hóa, tội phạm môi trường có yếu tố nước ngoài gia tăng, diễn biến phức tạp, tinh vi khó phát hiện... sẽ hình thành những vi phạm pháp luật mới, thậm chí những vi phạm có tính chất nguy hiểm biến đổi thành tội phạm về môi trường, mang tính quốc tế cần phải phòng ngừa.

Pháp luật môi trường đối với doanh nghiệp

(LSVN) - Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một trong những yêu cầu quan trọng và ưu tiên hàng đầu đối với các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, trong đó cộng đồng doanh nghiệp là nhân tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên. Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà còn giúp bản thân doanh nghiệp tự nâng cao khả năng cạnh tranh, thâm nhập thị trường quốc tế và đảm bảo phát triển bền vững.

Bạo lực gia đình – Những vấn đề pháp lý

Bạo lực gia đình nói chung luôn là vấn đề được quan tâm ở thời điểm hiện tại, đây là vấn đề hết sức phức tạp vì từ lâu vẫn được dư luận cho là vấn đề cá nhân, tế nhị, mặt khác nó cũng chứa đựng những vấn đề pháp lý về quyền công dân, quyền con người…cần phải giải quyết để đảm bảo trật tự xã hội nói chung và mỗi gia đình, cá nhân nói riêng. Thực tiễn cho thấy hành vi bạo lực gia đình vẫn diễn ra thường xuyên, có nhiều phụ nữ bị chính chồng mình đánh đập, hành hạ nhưng không dám lên tiếng vì sợ dư luận, sợ ảnh hưởng đến con cái…

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.