Mục lục

Thuốc là sản phẩm dùng trong khám, chữa bệnh, có thể gây ra những ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng của con người. Tuy nhiên một số đối tượng vì trục lợi đã thực hiện các hành vi bán thuốc giả cho người tiêu dùng, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay.

Thuốc giả là gì?

Theo quy định tại khoản 33 Điều 2 Luật Dược năm 2016, thuốc giả là thuốc được sản xuất thuộc một trong các trường hợp sau đây:

i) Không có dược chất, dược liệu;

ii) Có dược chất không đúng với dược chất ghi trên nhãn hoặc theo tiêu chuẩn đã đăng ký lưu hành hoặc ghi trong giấy phép nhập khẩu;

iii) Có dược chất, dược liệu nhưng không đúng hàm lượng, nồng độ hoặc khối lượng đã đăng ký lưu hành hoặc ghi trong giấy phép nhập khẩu, trừ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định tại Khoản 32 Điều này trong quá trình bảo quản, lưu thông phân phối;

iv) Được sản xuất, trình bày hoặc dán nhãn nhằm mạo danh nhà sản xuất, nước sản xuất hoặc nước xuất xứ.

Kinh doanh thuốc, nguyên liệu làm thuốc giả, kém chất lượng là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 6 Luật Dược năm 2016. Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng mà hành vi buôn bán thuốc giả, kém chất lượng có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra người thực hiện hành vi bán thuốc giả, kém chất lượng còn có thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho người mua thuốc.

Trách nhiệm hành chính

Đối với hành vi buôn bán thuốc giả về giá trị sử dụng, công dụng, Điều 9 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 3 Nghị định 17/2022/NĐ-CP) quy định hình thức xử phạt như sau:

i) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng trong trường hợp thuốc giả tương đương với số lượng của thuốc thật có trị giá dưới 3.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp dưới 5.000.000 đồng;

ii) Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp thuốc giả tương đương với số lượng của thuốc thật có trị giá từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng;

iii) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp thuốc giả tương đương với số lượng của thuốc thật có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng;

iv) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng trong trường hợp thuốc giả tương đương với số lượng của thuốc thật có trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;

v) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp thuốc giả tương đương với số lượng của thuốc thật có trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

vi) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng trong trường hợp thuốc giả tương đương với số lượng của thuốc thật có trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 50.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó người vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau:

i) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tiêu hủy tang vật hoặc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng giả;

ii) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm mà hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 50.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như:

i) Buộc tiêu hủy tang vật trừ trường hợp áp dụng biện pháp buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng giả;

ii) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng giả đối với hành vi nhập khẩu thuốc giả;

iii) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Trách nhiệm hình sự

Đối với cá nhân

Người thực hiện hành vi buôn bán thuốc giả có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh theo Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 với mức phạt tù từ 02 đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

i) Có tổ chức;

ii) Có tính chất chuyên nghiệp;

iii) Tái phạm nguy hiểm;

iv) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

v) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

vi) Buôn bán qua biên giới;

vii) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

viii) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

ix) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

x) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

i) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

ii) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng;

iii) Làm chết người;

iv) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

v) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

vi) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

i) Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên;

ii) Làm chết 02 người trở lên;

iii) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

iv) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung sau:

i) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;

ii) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm;

iii) Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đối với pháp nhân thương mại

Khoản 6 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội với mức phạt như sau:

Khung cơ bản: phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng;

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng:

i) Có tổ chức;

ii) Có tính chất chuyên nghiệp;

iii) Tái phạm nguy hiểm;

iv) Buôn bán qua biên giới;

v) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

vi) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

vii) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

viii) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tiền từ 9.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng:

i) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

ii) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng;

iii) Làm chết người;

iv) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

v) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

vi) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tiền từ 15.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm:

i) Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên;

ii) Làm chết 02 người trở lên;

iii) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

iv) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra (Điều 79 Bộ luật Hình sự) thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Bên cạnh đó pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Trách nhiệm dân sự

Theo quy định tại khoản 6 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2018, người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

Do đó cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi buôn bán thuốc giả, kém chất lượng có thể phải bồi thường cho người yêu dùng.

Đỗ Thị Hà - Công ty luật ThinkSmart