Mục lục

Hỏi: Tôi là một nhân viên nữ đã lập gia đình và có một đứa con nhỏ đang làm tại một công ty ở Hà Nội. Công ty tôi đang có một dự án rất quan trọng cần người có kinh nghiệm đảm nhiệm dự án, có hai người ứng cử là tôi và một nhân viên nam chưa lập gia đình. Cả hai người đều có kinh nghiệm như nhau nhưng nhân viên nam đó được ưu tiên hơn tôi với lí do là tôi có con nhỏ nên sẽ không quan tâm đến công việc. Tôi cảm thấy như vậy là không bình đẳng. Vậy, tôi muốn hỏi trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đảm bảo bình đẳng giới được quy định như thế nào theo pháp luật Việt Nam? – Chị B.N (Hà Nội) hỏi.

Cảm ơn chị đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật về Lao động – Bảo hiểm của Công ty luật ThinkSmart chúng tôi. Luật sư bộ phận Lao động – Bảo hiểm chia sẻ ý kiến tư vấn như sau: 

Theo khoản 3 điều 40 Luật bình đẳng giới năm 2006, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

(1) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;

(2) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;

(3) Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính;

(4) Không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với lao động nữ.

Theo Điều 136 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động phải thực hiện các nhiệm vụ sau để đảm bảo bình đẳng giới trong quan hệ lao động:

(1) Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác;

(2) Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ;

(3) Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc;

(4) Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì công ty của chị có trách nhiệm phải đảm bảo thực hiện bình đẳng giới trong việc bố trí và sắp xếp việc làm cho nhân viên. Nếu trong cùng một dự án có hai ứng cử viên một nam, một nữ có trình độ kinh nghiệm và năng lực thực hiện công việc như nhau thì công ty không thể dựa vào căn cứ phụ nữ có con nhỏ sẽ không quan tâm đến không việc để chọn nhân viên nam kia được.

Cơ sở pháp lý 

  • Luật bình đẳng giới 2006
  • Bộ luật lao động 2019
Mời Quý khách tham khảo Luật sư tư vấn Lao động – Bảo hiểm:
Bài viết liên quan

Hướng dẫn xây dựng và đăng ký nội quy lao động

Bài viết của Phòng DVPL Kinh doanh - Thương mại - Công ty Luật Thinksmart tư vấn về việc xây dựng và đăng ký nội quy lao động.

Đất nông trường phục vụ mục đích nghiên cứu chăn nuôi có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Ngày 09/7/2021, bà Nguyễn Hoàng A và ông Hoàng Văn Q giao kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo nội dung của hợp đồng, ông Hoàng Văn Q đã nhận đặt cọc đối với số tiền 500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A đối với phần diện tích 1565m2 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ B.V trong thời hạn 50 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc.

Dùng vũ lực để đòi lại tiền đã cho vay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

A vay tiền của B số tiền 50tr với thời hạn 2 tháng. Sau 2 tháng B đòi thì A nói chưa có đủ nên không thể trả được, thời gian trôi đi B vẫn đòi nhưng A đưa ra nhiều lý do để không trả nợ (A không trốn tránh). Sau 8 tháng, B rủ C cùng mình đi tìm A để đòi nợ, trên đường đi B và C gặp A đang đi chơi. Thấy vậy C nhảy xuống túm cổ áo, đấm và giữ A để B lục soát nơi giấu tiền, trong cốp xe của A có 100tr nhưng B chỉ lấy 50tr rồi bỏ đi. Xác định TNHS của các đối tượng A, B, C.

Hành vi buôn lậu và những trách nhiệm pháp lý phải đối mặt

Thời gian gần đây, hoạt động buôn lậu đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Đặc biệt là ở các vùng biên giới, người phạm tội với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đã qua mắt lực lượng kiểm tra để thực hiện những phi vụ trót lọt. Tội buôn lậu được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước.